CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái quát chung về hiệu quả kinh doanh và phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, khi các DN đang trên đường đua về thị phần, uy tín, hay quy mô thì mục tiêu lâu dài và quan trọng nhất đối với một DN đó chính là kinh doanh có hiệu quả và tối đa hóa lợi nhuận. Kinh doanh là một trường học đường dài, không phải những thương gia lâu năm sẽ luôn là người có nhiều kinh nghiệm và giành được nhiều ưu thế trên thương trường, thị trường cạnh tranh khiến những nhà kinh doanh phải biết nhanh nhạy và có tầm nhìn chiến lược đối với từng sản phẩm, dịch vụ của DN mình để phát huy tối đa hiệu quả của hoạt động kinh doanh.
Khi đề cập tới hiệu quả kinh doanh, các nhà kinh tế đã đứng trên những góc độ khác nhau để nhìn nhận và đưa ra những quan điểm cụ thể. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh *Quan điểm thứ nhất Theo Adam Smith, một nhà kinh tế học người Anh: “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa” quan điểm này đã đồng nhất hiệu quả và kết quả với nhau. Vậy nên, với các mức chi phí khác nhau cùng cho ra một kết quả thì được coi là mang lại hiệu quả như nhau. Quan điểm này chỉ đúng khi kết quả sản xuất kinh doanh tăng với tốc độ nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí đầu vào của sản xuất.
* Quan điểm thứ hai Nhiều nhà quản trị quan điểm hiệu quả được xác định bằng tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Theo Manfred Kuhn: “Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh”. 𝑁 Theo đó hiệu quả được tính theo công thức sau:H = 𝑁 Trong đó: H: Hiệu quả K: Kết quả đạt được 6 C: Chi phí bỏ ra Như vậy, hiệu quả kinh doanh phản ánh mặt chất lượng hoạt động kinh doanh của DN, còn kết quả kinh doanh (doanh thu, lợi nhuận) phản ánh mặt số lượng của hoạt động kinh doanh. Ưu điểm của quan điểm này là phản ánh được mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh tế đã gắn với toàn bộ chi phí, coi hiệu quả kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố của quá trình kinh doanh.
Tuy nhiên, quan điểm này vẫn chưa thể hiện được mối tương quan giữa chất và lượng của kết quả và mức chặt chẽ của mối liên hệ này. * Quan điểm thứ ba Đây là quan điểm về hiệu quả được trình bày trong giáo trình “Kinh tế học” của P.Nordhaus: “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi sản xuất không thể tăng sản lượng một loại hàng hóa mà không cắt giảm sản xuất của một loại hàng hóa khác. Một đường kinh tế hiệu quả nằm trên đường giới hạn năng suất của nó”. Đứng dưới góc độ DN, thực chất quan điểm này đã đề cập đến vấn đề phân bổ các nguồn lực kinh tế nhằm đạt được việc sử dụng mọi nguồn lực trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho kinh doanh có hiệu quả.
Xét trên phương diện lý thuyết thì đây chính là mức hiệu quả cao nhất mà nền kinh tế có thể đạt được nhưng không phải lúc nào điều ấy cũng trở thành hiện thực. Để đạt được mức hiệu quả này sẽ cần nhiều điều kiện, trong đó đòi hỏi phải dự báo và quyết định đầu tư sản xuất theo quy mô phù hợp với nhu cầu thị trường. Từ các quan điểm trên, có thể khẳng định: Hiệu quả hoạt động kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu kinh doanh xác định. Chỉ các DN kinh doanh mới nhằm vào mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và vì thế mới cần đánh giá hiệu quả kinh doanh.
Bản chất hiệu quả kinh doanh Từ khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh có thể thấy hiệu quả sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, thiết bị máy móc, nguyên nhiên vật liệu và tiền vốn) để 7 đạt được kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây cũng chính là mục tiêu cuối của DN là tối đa hóa lợi nhuận. Mặc dù, phạm trù hiệu quả và kết quả kinh doanh khác nhau nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Cần phân biệt rõ ràng giữa hai phạm này để có thể hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh doanh.
Kết quả kinh doanh là phạm trù phản ánh cái thu được sau một quá trình kinh doanh hay một khoảng thời gian kinh doanh nào đó. Kết quả bao giờ cũng là mục tiêu của DN, có thể được biểu hiện bằng đơn vị hiện vật hoặc đơn vị giá trị. Các đơn vị hiện vật cụ thể được sử dụng tùy thuộc vào đặc trưng của sản phẩm mà quá trình kinh doanh tạo ra, nó có thể là tấn, tạ, kg, m2, m3, lít,.Các đơn vị giá trị có thể là đồng, triệu đồng, ngoại tệ,.Kết quả cũng có thể phản ánh mặt chất lượng của quá trình kinh doanh hoàn toàn định tính như danh tiếng, thương hiệu, uy tín, chất lượng sản phẩm,. Tuy nhiên, kết quả được tạo ra ở mức nào, với mức giá nào mới là vấn đề cần xem xét vì nó phản ánh mặt chất lượng của của hoạt động tạo ra kết quả.
Mặt khác, nhu cầu tiêu dùng của con người bao giờ cũng lớn hơn nguồn lực. Bởi vậy, con người quan tâm tới việc khả năng hiện tại thì làm sao làm ra được nhiều sản phẩm nhất. Từ đó, nảy sinh vấn đề là phải xem xét, lựa chọn cách nào để đạt được kết quả lớn nhất. Chính vì thế, khi đánh giá hoạt động kinh doanh, không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn đánh giá chất lượng hoạt động kinh doanh để tạo ra kết quả đó, tức là đánh giá hiệu quả kinh doanh.
Như vậy, hiệu quả kinh doanh phải là một đại lượng so sánh: có thể là so sánh giữa đầu vào với đầu ra hoặc là so sánh giữa chi phí kinh doanh bỏ ra và kết quả kinh doanh đạt được,.Đứng trên góc độ xã hội, chi phí xem xét phải là chi phí xã hội do sự kết hợp của các yếu tố lao động, tư liệu lao động, khối lượng lao động theo một tương quan cả về số lượng và chất lượng trong quá trình kinh doanh để tạo ra sản phẩm, dịch vụ đủ tiêu chuẩn cho tiêu dùng. Cũng như vậy, kết quả thu được phải là một kết quả tốt, kết quả có ích. Từ đó có thể khẳng định rằng: Bản chất của hiệu quả kinh doanh chính là hiệu quả của lao động xã hội được xác định bằng so sánh lượng kết quả hữu ích cuối cùng thu được với lượng hao phí lao động xã hội. Thước đo của hiệu quả kinh doanh là sự 8 tiết kiệm hao phí lao động xã hội và tiêu chuẩn của nó là việc tối đa hóa kết quả hay tối thiểu hóa chi phí dựa trên điều kiện nguồn tài lực sẵn có.
Về thực chất, hiệu quả kinh doanh là biểu hiện của việc kết hợp theo một tương quan nhất định cả về lượng và về chất của các yếu tố cấu thành quá trình kinh doanh: lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động. Vì thế, có thể nói, DN chỉ có thể đạt được hiệu quả kinh doanh khi và chỉ khi các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh được sử dụng có hiệu quả. Đồng thời, khi phân tích hiệu quả kinh doanh cần xem xét một cách toàn diện cả về thời gian và không gian trong mối quan hệ với hiệu quả chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Về thời gian, hiệu quả hoạt động kinh doanh trong giai đoạn, từng thời kỳ không được làm giảm sút hiệu quả các giai đoạn, các thời kỳ hoạt động kinh doanh tiếp theo, không vì lợi ích trước mắt mà quên đi lợi ích lâu dài.
Về không gian, hiệu quả hoạt động kinh doanh chỉ có thể coi là đạt được một cách toàn diện khi hoạt động của các bộ phận, các đơn vị mang lại hiệu quả và không ảnh hưởng đến hiệu quả chung. Về định lượng, hiệu quả hoạt động kinh doanh phải được thể hiện ở mối tương quan giữa thu và chi theo hướng tăng thu giảm chi phí. Điều này có nghĩa là tiết kiệm đến mức tối đa chi phí kinh doanh mà thực chất là tiết kiệm hao phí thời gian lao động (lao động sống và lao động vật hóa) để tạo được một đơn vị sản phẩm. Đồng thời với khả năng sẵn sàng làm ra nhiều sản phẩm, dịch vụ có ích nhất.
Về góc độ nền kinh tế quốc dân, hiệu quả kinh doanh của các đơn vị, các bộ phận cũng như toàn bộ các DN đạt được phải gắn chặt với hiệu quả của toàn xã hội. Đạt được hiệu quả cao cho các đơn vị, bộ phận của DN chưa đủ, nó còn đòi hỏi mang lại hiệu quả cho toàn xã hội. Chỉ khi nào gắn kết được hiệu quả kinh doanh của DN với hiệu quả cho toàn xã hội thì hoạt động của DN mới thực sự được coi là hiệu quả. Phân loại hiệu quả kinh doanh Để đánh giá hiệu quả kinh doanh của DN, nhà quản lý thường phân loại hiệu quả kinh doanh theo các tiêu chí khác nhau.
a) Căn cứ vào mục tiêu hoạt động kinh doanh 9 Hiệu quả kinh doanh gồm hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Thứ nhất, hiệu quả xã hội Hiệu quả xã hội là những lợi ích và đóng góp của DN đối với sự phát triển của xã hội thông qua quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của chính nó. Các hiệu quả xã hội một DN có thể đóng góp: + Giải quyết công ăn việc làm + Xây dựng cơ sở hạ tầng + Nâng cao phúc lợi xã hội, mức sống và đời sống tinh thần cho người lao động. + Đảm bảo sức khỏe và nâng cao sức khỏe cho người lao động + Cải thiện điều kiện lao động, đảm bảo vệ sinh môi trường.
Thứ hai, hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu kinh tế của một thời kỳ nào đó. Các mục tiêu kinh tế chủ yếu: + Tốc độ tăng trưởng kinh doanh + Tổng sản phẩm sản xuất, tiêu thụ, lợi nhuận thu được trong một kỳ xác định.