CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU.1 Khái quát các nghiên cứu 1.1 Khái quát các nghiên cứu về sự hài lòng công việc. Sự hài lòng công việc là mức độ mà nhân viên yêu thích công việc của họ, là thái độ dựa trên nhận thức của nhân viên về công việc hoặc môi trường làm việc. Nếu nhân viên trong tổ chức có sự hài lòng côngviệc cao, sẽ ảnh hưởng tích cực đến kết quả công việc của nhân viên cũng như lợi nhuận của tổ chức. Vì vậy, sự hài lòng của nhân viên đối với công việc đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và nghiên cứu từ rất sớm.1 Các nghiên cứu nước ngoài Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên.
Theo Smith và cộng sự (1969), sự hài lòng trong công việc là mức độ hài lòng với các khía cạnh khác nhau trong công việc như là đặc điểm của công việc, cơ hội được đào tạo để nâng cao kiến thức và kĩ năng, cơ hội được thăng tiến trong công việc, mối quan hệ với lãnh đạo và đồng nghiệp và mức độ tiền lương nhận được. Luddy (2005) đã khái niệm sự hài lòng công việc là phản ứng về mặt tình cảm và cảm xúc của nhân viên đối với các khía cạnh khác nhau của công việc. Sử dụng chỉ số mô tả công việc JDI, tác giả đã khảo sát 203 nhân viên ở viện y tế công cộng vùng Western Cape, Nam Phi. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự hài lòng công việc chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố: vị trí của công việc, nội dung công việc, sự giám sát của cấp trên, mối quan hệ với đồng nghiệp, sự đãi ngộ, thăng tiến trong công việc.2 Các nghiên cứu trong nước Hiện nay, tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nào tập trung xem xét khái niệm về sự hài lòng trong công việc.
Các nghiên cứu tại Việt Nam đa phần sử dụng thang đo chỉ số mô tả công việc (JDS) của Smith và cộng sự (1969) để đo lường mức độ hài lòng đối với công việc trong điều kiện tại Việt Nam. 7 Theo nghiên cứu của Trần Kim Dung (2005), tác giả đã thực hiện kiểm định thang đo chỉ số mô tả công việc (JDS) của Smith và cộng sự (1969) để đo lường mức độ hài lòng đối với công việc trong điều kiện của Việt Nam. Tác giả cho rằng sự hài lòng công việc của nhân viên phụ thuộc vào các yếu tố như bản chất công việc, cơ hội đào tạo và thăng tiến, mối quan hệ với lãnh đạo và đồng nghiệp, tiền lương, phúc lợi và điều kiện làm việc. Nghiên cứu của Hà Nam Khánh Giao, Võ Thị Mai Phương (2011) cũng sử dụng thang đo chỉ số mô tả công việc (JDI) đã được điều chỉnh ở thị trường Việt Nam để đo lường sự hài lòng công việc của nhân viên sản xuất tại tập đoàn Tân Hiệp Phát.
Cho thấy có 5 nhân tố ảnh hưởng và biến thiên cùng chiều với sự hài lòng về tiền lương, mối quan hệ với cấp trên, đặc điểm công việc; điều kiện làm việc và phúc lợi.2 Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên sử dụng HTTT/ ERP 1.1 Các nghiên cứu nước ngoài Mối quan hệ giữa chất lượng thông tin và sự hài lòng công việc Joshi và Rai (2000), dựa trên mô hình của Leavitt (1965) tác giả đã phát triển và kiểm tra một mô hình về mối quan hệ giữa các đặc điểm của hệ thống thông tin và kết quả liên quan đến công việc của nhân viên sử dụng HTTT. Bởi vì thông tin có thể được coi là sản phẩm cuối căn bản của hệ thống thông tin, nên “chất lượng sản phẩm thông tin”, một biến số đặc trưng cho đầu ra của hệ thống thông tin được tác giả lựa chọn để xem xét đặc điểm của hệ thống thông tin. Đối với kết quả liên quan đến công việc, “sự hài lòng trong công việc” được chọn để xem xét nghiên cứu, vì sự hài lòng trong công việc là một trong những mục tiêu chính của tổ chức, có thể bị ảnh hưởng bởi hệ thống thông tin. Do đó, nghiên cứu đã điều tra những ảnh hưởng của chất lượng sản phẩm thông tin đến sự hài lòng trong công việc của nhân viên.
Kết quả từ việc nghiên cứu trên 368 người dùng chỉ ra rằng chất lượng sản phẩm thông tin có mối quan hệ tương quan tích cực với sự hài lòng trong công việc của nhân viên. 8 Mối quan hệ giữa đặc điểm công việc và sự hài lòng công việc Ling Hsiu Chen (2007), nghiên cứu đã xem xét mối quan hệ giữa đặc điểm công việc và nhu cầu về thành tích với sự hài lòng trong công việc của các nhân viên IS. Trong đó nhu cầu về thành tích gồm sự kiên trì, cạnh tranh và kiểm soát khó khăn. Đặc điểm công việc bao gồm: sự đa dạng của kỹ năng (sự chuyên nghiệp), sự tự chủ trong công việc, sự phản hồi trong công việc, mức độ rõ ràng của nhiệm vụ và ý nghĩa của nhiệm vụ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy đặc điểm công việc ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên IS và tồn tại mối quan hệ tích cực giữa đặc điểm công việc và sự hài lòng trong công việc. Trong khi đó, nhu cầu về thành tích không có tác động đến sự hài lòng trong công việc của nhân viên. Trong số năm khía cạnh đặc điểm công việc của nhân viên IS, sự phản hồi trong công việc, sự đa dạng của kỹ năng và sự tự chủ có thể dễ dàng làm tăng sự hài lòng trong công việc của nhân viên. Nghiên cứu của Morris và Venkatesh (2010), được thực hiện trong vòng 12 tháng với 2.794 nhân viên trong một công ty viễn thông, tác giả đã nghiên cứu tác động của việc ứng dụng hệ thống ERP đến sự hài lòng trong công việc của nhân viên sử dụng hệ thống.
Tác giả đã xem xét 5 chiều đo lường của đặc điểm công việc theo Hackman và Oldham (1980) tác động đến sự hài lòng công việc của người dùng trong môi trường ứng dụng ERP. Kết quả nghiên cứu cho thấy hai trong số các đặc điểm công việc, đó là ý nghĩa nhiệm vụ và mức độ rõ ràng của nhiệm vụ có mối quan hệ tích cực ổn định với sự hài lòng trong công việc cả trước và sau khi triển khai hệ thống ERP. Tuy nhiên, mối quan hệ của 3 trong số 5 đặc điểm công việc (gồm sự đa dạng về kỹ năng, sự tự chủ và phản hồi) và sự hài lòng trong công việc không ổn định và thay vào đó, được điều tiết bởi việc triển khai hệ thống ERP. Vì vậy, thông qua kết quả nghiên cứu tác giả cho thấy được đặc điểm công việc có ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc và việc triển khai hệ thống ERP cũng có tác động rất lớn đến sự hài lòng trong công việc của nhân viên sử dụng hệ thống.Vanithmani (2012), việc ứng dụng ERP có khả năng thay đổi mạnh mẽ công việc, từ đó thay đổi phản ứng của nhân viên sử dụng hệ 9 thống về tình hình công việc của họ.
Do đó, khả năng nhận thức về công việc và việc triển khai hệ thống ERP có thể tương tác để ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên sử dụng hệ thống ERP. Bằng cách sử dụng mô hình đặc điểm công việc của Hackman và Oldham, tác giả đã xem xét mối quan hệ giữa đặc điểm công việc và sự hài lòng trong công việc của người sử dụng trong môi trường ứng dụng ERP. Kết quả nghiên cứu cho thấy đặc điểm công việc có mối tương quan với sự hài lòng trong công việc của người sử dụng hệ thống ERP. Trong năm biến của đặc điểm công việc, bốn biến sự đa dạng kỹ năng, mức độ rõ ràng của nhiệm vụ, ý nghĩa nhiệm vụ và sự phản hồi có ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc.
Riêng biến sự tự chủ thì không có ảnh hưởng với sự hài lòng công việc trong môi trường ứng dụng ERP. Mối quan hệ giữa chất lượng hệ thống và sự hài lòng công việc Nghiên cứu của Chang (2012), tác giả đã thực hiện khảo sát với nhân viên sử dụng hệ thống thông tin tại ba bệnh viện tại miền nam Đài Loan. Bài nghiên cứu đã xem xét ảnh hưởng của chất lượng hệ thống đến sự hài lòng trong công việc, ảnh hưởng của chất lượng hệ thống đến chất lượng dịch vụ, ảnh hưởng của chất lượng hệ thống đến hiệu suất hệ thống; xem xét ảnh hưởng của chất lượng dịch vụ đến hiệu suất hệ thống; và xem xét sự hài lòng công việc ảnh hưởng như thế nào đến hiệu suất hệ thống. Khi người dùng cảm nhận được những lợi ích do chất lượng hệ thống mang lại, họ sẽ cảm nhận được sự hỗ trợ và khuyến khích trong công việc.
Từ đó thúc đẩy họ dành nhiều nỗ lực hơn cho công việc, sự tận tâm của nhân viên đối với công việc của họ được cải thiện, do đó, sự hài lòng trong công việc cũng sẽ được tăng cao.Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng chất lượng hệ thống có ảnh hưởng đáng kể đến sự hài lòng trong công việc. Chất lượng hệ thống được tác giả xem xét theo ba khía cạnh: bảo mật, dễ sử dụng và hiệu quả. Với đối tượng khảo sát là nhân viên sử dụng HTTT tại các bệnh viện, kết quả nghiên cứu của Chang cho thấy tính hiệu quả và dễ sử dụng của chất lượng hệ thống có ảnh hưởng đáng kể đến sự hài lòng công việc của nhân viên sử dụng HTTT, riêng tính bảo mật không có ảnh hưởng đáng kể đến sự hài lòng công việc của nhân viên sử dụng HTTT.2 Các nghiên cứu trong nước Nghiên cứu của Phạm Hoài An (2017), kết quả nghiên cứu cho thấy: lợi ích về mặt hệ thống của kế toán, lợi ích về mặt hoạt động của kế toán và lợi ích về mặt tổ chức của kế toán có mối tương quan thuận đến sự hài lòng của người dùng. Ngoài việc củng cố mối quan hệ giữa lợi ích kế toán và sự hài lòng của người dùng từ việc ứng dụng ERP, bài nghiên cứu cũng giúp thấy được giá trị mà ERP đem lại cho lĩnh vực kế toán.
Từ đó, tổ chức sẽ có những chính sách cải thiện ERP, tận dụng tối đa những lợi ích mà ERP mang lại, làm cho công tác kế toán tại tổ chức trở nên hiệu quả hơn. Phạm Trà Lam (2018), nghiên cứu về các nhân tố tác động đến cảm nhận kết quả công việc của nhân viên kế toán sử dụng hệ thống ERP.