CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG ĐOÀN VÀ SỰ HÀI LÒNG TRONG CÔNG VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Tổng quan nghiên cứu về công đoàn Các nghiên cứu về công đoàn tập trung vào các vấn đề như vai trò của công đoàn; nhân tố ảnh hưởng đến vai trò và hiệu quả hoạt động công đoàn và đo lường kết quả hoạt động công đoàn. Việc nghiên cứu về công đoàn giúp hiểu rõ hơn vị trí, vai trò và tác động của tổ chức này đối với người lao động và xã hội.
Thứ nhất, các nghiên cứu về vai trò của công đoàn. Các nghiên cứu đều khẳng định công đoàn có vai trò quan trọng đối với NLĐ (Cardador và cộng sự, 2019). Công đoàn là tổ chức xã hội quan trọng, đại diện và bảo vệ quyền lợi của NLĐ (Artz, 2010, 2012; Freeman and Medoff, 1979). Công đoàn, với tư cách là một tổ chức đại diện cho NLĐ, tham gia đàm phán, thương lượng với người sử dụng lao động về các vấn đề liên quan tới NLĐ như tiền lương, điều kiện về an toàn vệ sinh lao động, giờ làm việc….
Trong nghiên cứu của mình, Artz (2012) và Ratna and Kaur (2012) khẳng định, hoạt động của công đoàn là công cụ hữu hiệu để bảo vệ quyền lợi chính đáng của NLĐ, đặc biệt là trong bối cảnh không cân bằng trong mối quan hệ giữa NLĐ và người sử dụng lao động. Khi nghiên cứu về vai trò của công đoàn ở các quốc gia Châu Âu, Berkowitz (1954) và Freeman and Medoff (1979) cũng khẳng định vai trò quan trọng của công đoàn thông qua việc tham gia thương lượng tập thể, lãnh đạo các hoạt động của NLĐ, đấu tranh cho lợi ích kinh tế và phúc lợi cho NLĐ. Kết thừa quan điểm này, Schnabel and Wagner (2007) cũng cho rằng công đoàn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của NLĐ. Vai trò bảo vệ NLĐ của công đoàn cũng được Shore và cộng sự (1994) khẳng định và mô tả thông qua các hoạt động hỗ trợ của công đoàn đối với NLĐ, bao gồm: hỗ trợ NLĐ trong việc đạt được mục tiêu và khẳng định vai trò của NLĐ đối với tổ chức; hỗ trợ NLĐ giải quyết những khó khăn trong cuộc sống và công việc; chăm lo đến sức khỏe và những nhu cầu tinh thần của NLĐ.
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, những hoạt động này đã góp phần mang lại lợi ích cho NLĐ. Các nghiên cứu về vai trò của công đoàn tại các quốc gia Châu Á cũng cho thấy, công đoàn có vai trò quan trọng trong việc đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ (Caraway, 2009; Nguyen Phuong Bac, 2016). Công đoàn ở một số quốc gia như Trung Quốc và Việt Nam được ghi nhận là có đóng góp tích cực cho việc bảo vệ quyền lợi người lao động (Clarke và cộng sự, 2007). Công đoàn đã tổ chức các hoạt động hỗ trợ NLĐ về mặt pháp lý, đời sống, văn hóa, thể thao., tham gia giải quyết tranh chấp lao động, bảo vệ quyền lợi cho NLĐ trong các vụ đình công,… từ đó khẳng định vai trò bảo vệ quyền và lợi ích cho người lao động của mình.
8 Trong bối cảnh kinh tế thị trường, vai trò bảo vệ NLĐ của công đoàn càng được khẳng định và hiệu quả hơn do có sự tham gia tích cực của cán bộ công đoàn trong việc tìm ra các biện pháp đáp ứng nhu cầu của NLĐ, hỗ trợ cho NLĐ và tránh các xung đột trực tiếp giữa NLĐ và người sử dụng lao động (Nguyen Phuong Bac, 2016). Trong trường hợp xảy ra xung đột (như đình công), công đoàn có thể bảo vệ NLĐ thông qua việc đại diện cho NLĐ yêu cầu người sử dụng lao động không trả thù hoặc sa thải NLĐ tham gia đình công; tư vấn pháp luật cho NLĐ bị sa thải để đảm bảo được đối xử công bằng và đúng quy định (Chan, 2012). Thứ hai, các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến vai trò của công đoàn. Nhìn chung, các nghiên cứu về công đoàn đều khẳng định vai trò quan trọng của công đoàn trong việc đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ.
Tuy nhiên, vai trò của công đoàn ở mỗi quốc gia lại có sự khác biệt, phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công đoàn. Trong nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến vai trò của công đoàn tại các quốc gia Châu Á, Caraway (2009) đã chỉ ra rằng, do mức độ độc lập của công đoàn tại các quốc gia khác nhau nên hiệu quả hoạt động của công đoàn ở các quốc gia Châu Á có sự khác biệt nhất định. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, công đoàn tại một số quốc gia như Trung Quốc, Việt Nam, Myanmar có mức độ độc lập không cao do công đoàn vừa là tổ chức chính trị, vừa là tổ chức xã hội, phụ thuộc vào sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản và Nhà nước, do đó, hoạt động của công đoàn chưa thực sự hiệu quả như hoạt động của công đoàn tại một số quốc gia như Hàn Quốc, Indonesia, hoặc một số công đoàn lớn của Ấn Độ. Một số nghiên cứu về công đoàn tại Việt Nam và Trung Quốc cũng ủng hộ quan điểm rằng, công đoàn tại các nước này không độc lập với Đảng cầm quyền, đã làm giảm vai trò bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ (Friedman, 2014; Zhang, 2018).
Bên cạnh đó, các nhân tố như xu hướng toàn cầu hóa (Van Gramberg và cộng sự, 2013), sự thiếu dân chủ, thiếu sự tham gia của đoàn viên vào hoạt động công đoàn và xu hướng phát triển mạnh mẽ của kinh tế tư nhân (Clarke và cộng sự, 2007) hay mức độ quan tâm của NLĐ đến điều kiện lao động và lợi ích kinh tế cũng đã và đang có ảnh hưởng đáng kể đến vai trò đại diện cho NLĐ của công đoàn. Một số nghiên cứu về công đoàn ở Việt Nam cũng cho thấy, vai trò đại diện và bảo vệ NLĐ của công đoàn ở Việt Nam còn hạn chế, do đó, hoạt động của công đoàn chưa thực sự hiệu quả, mặc dù trong thời gian vừa qua, công đoàn đã và đang có những chiến lược cải cách nhằm nâng cao vai trò đại diện và bảo vệ NLĐ (Nguyen Phuong Bac, 2016). Ngoài các nhân tố ảnh hưởng nêu trên, vai trò đại diện và bảo vệ quyền và 9 lợi ích của NLĐ của công đoàn tại Việt Nam còn bị ảnh hưởng bới quy mô DN. Clarke và Cộng sự (2007), sau khi nghiên cứu thực nghiệm tại một số DN quy mô nhỏ tại Việt Nam, đã nhận định công đoàn không có đủ năng lực để thực hiện quyền đàm phán tập thể với người sử dụng lao động, và cũng không có biện pháp hữu hiệu để giải quyết các vụ việc liên quan tới quyền lợi NLĐ, như nâng lương, cải thiện điều kiện lao động.
Nghiên cứu cũng cho rằng, hiệu quả hoạt động của công đoàn phụ thuộc vào thái độ của chủ doanh nghiệp, do đó, trong bối cảnh các nước đang chuyển đổi như Việt Nam, công đoàn nên thực hiện chiến lược xây dựng quan hệ đối tác với chủ DN (Nguyen Phuong Bac, 2016) để khẳng định vai trò và nâng cao hiệu quả hoạt động công đoàn. Thứ ba, các nghiên cứu về đo lường kết quả hoạt động của công đoàn. Kết quả hoạt động của công đoàn được đo lường thông qua hai nhóm thang đo, bao gồm: (1) Thang đo định lượng, được mô tả thông qua số lượng công đoàn viên, tỷ lệ công đoàn viên, tư cách công đoàn (Chan, 2012; García-Serrano, 2009; Gius, 2012; Laroche, 2016; Powdthavee, 2011) và được sử dụng khi đo lường kết quả của công đoàn thông qua sự tồn tại và phát triển của công đoàn tại DN (Blanchflower và cộng sự, 2021; Borjas, 1979; Clark, 1996; Freeman, 1978; Hipp and Givan, 2015; Nawakitphaitoon and Zhang, 2020; Torm, 2014, 2018). Thang đo định lượng về kết quả hoạt động của công đoàn chủ yếu được sử dụng đối với các quốc gia có công đoàn hoàn toàn độc lập với DN và Nhà nước, công đoàn thuần túy là tổ chức đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ.
NLĐ toàn quyền quyết định tham gia công đoàn hoặc không tham gia công đoàn tùy thuộc vào mức độ lợi ích mà NLĐ cảm nhận được do công đoàn mang lại và/hoặc nhu cầu được đại diện, được bảo vệ quyền và lợi ích của mình; (2) Thang đo định tính, được mô tả thông qua mức độ cảm nhận của NLĐ về những lợi ích mà công đoàn mang lại cho NLĐ trong quá trình thực hiện vai trò đại diện và bảo vệ của công đoàn (PUI- Perceived Union Instrumentality) hoặc sự hỗ trợ của công đoàn đối với NLĐ (PUS- Perceived Union Support) (Afif, 2018; Cardador và cộng sự, 2019b; Ibrahim và cộng sự, 2022; Shan và cộng sự, 2016). Khi thực hiện vai trò của mình, công đoàn sẽ bảo vệ NLĐ khỏi những bất công trong phân phối thu nhập, trong đảm bảo việc làm, hoặc trong cải thiện điều kiện làm việc, phối hợp với người sử dụng lao động trong việc giải quyết và cải thiện các bất đồng tại nơi làm việc….và mang lại lợi ích cho NLĐ. Mặt khác, công đoàn cũng hỗ trợ cả về vật chất và tinh thần nhằm giúp đỡ NLĐ trong công việc, từ đó cải thiện cảm xúc/ thái độ của họ với công việc. Đồng thuận với quan điểm này, Valizade và cộng sự (2016) cũng cho rằng, kết quả hoạt động của công đoàn được đo lường thông qua đánh giá của NLĐ về mức độ hiệu quả của việc đại diện cho lợi ích của họ.
Hay nói cách khác, NLĐ luôn quan tâm đến những lợi ích mà công đoàn 10 có thể mang lại cho mình (Zacharewicz và cộng sự, 2016). Khi NLĐ cảm thấy những lợi ích mà công đoàn mang lại cao hơn hoặc bằng so với kỳ vọng, họ cảm thấy công đoàn hoạt động hiệu quả, bảo vệ và đại diện tốt cho quyền và lợi ích của họ. Mức độ cảm nhận của NLĐ về lợi ích do công đoàn mang lại hoặc đánh giá của NLĐ về hiệu quả đại diện, bảo vệ của công đoàn được đo lường bằng thang đo Likert 5 mức độ. Tổng quan nghiên cứu về hài lòng trong công việc Chủ đề sự hài lòng trong công việc của NLĐ đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm (Bùi Quốc Anh, 2021).
Các nhà nghiên cứu tập trung nghiên cứu ý nghĩa của hài lòng trong công việc, chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng và đo lường mức độ hài lòng trong công việc của NLĐ.