mở đầu cuộc thương lượng, gồm các hoạt động: Các bên làm quen với nhau; Các bên thống nhất chương trình, trình tự vấn đề thương lượng; Các bên thống nhất cách thức thương lượng; Các bên thống nhất thời điểm giải lao; 12 Ấn tượng ban đầu rất quan trọng, tạo được ấn tượng tốt sẽ tạo được lòng tin với đối tác, từ đó nảy sinh tình cảm tốt đẹp và sự tôn trọng lẫn nhau giữa hai bên. Từ đó các bên sẽ tiến hành trao đổi một cách chính xác, được đối tác hiểu và dễ thỏa thuận. Có nhiều cách để tạo ấn tượng tốt đẹp với đối tác như ăn mặc lịch sự, phù hợp hoàn cảnh; nói năng rõ ràng, dễ hiểu; đặt sự chú ý vào trung tâm sự chú ý, tránh đề cao bản thân mình quá mức; xây dựng bầu không khí thoải mái;… b) Giai đoạn: Nêu vấn đề Đây là bước các bên nêu ra các yêu cầu của mình, trong cuộc thương lượng thường bên người lao động sẽ đưa ra trước. Giai đoạn này gồm các hoạt động: Từng bên đưa ra vấn đề cần thương lượng; Các bên trình bày lập luận để xác định quan điểm và lập trường.
Các kỹ năng giao tiếp, trình bày cần được sử dụng và phát huy trong giai đoạn này. Trong giai đoạn này, chưa có một đề xuất nào được đưa ra hay một sự nhượng bộ nào được thực hiện. Cần lưu ý trong giai đoạn này là tránh sự chia rẽ nội bộ, trưởng đoàn cần phân chia rõ nhiệm vụ cho các thành viên trong đoàn, cần phải tranh thủ sự đồng tình từ phía đối tác. c) Giai đoạn: Thương thuyết Sau khi các bên trình bày yêu cầu, ý kiến của mình và lắng nghe từ phía đối tác thì công việc tiếp theo chính là đưa ra các ý kiến phản hồi các đề xuát từ phía đối tác và bảo vệ quan điểm, lý lẽ của mình.
Cần phải nhắc lại và trả lời thật chính xác các câu hỏi mà phía đối tác đặt ra, các kỹ năng như lắng nghe, quan sát, giao tiếp, trình bày lập luận, hỏi đáp,. phải được sử dụng một cách linh hoạt, nhuần nhuyễn. Đây là bước sẽ quyết định sự thành công hay thất bại của cuộc thương lượng, hai bên chủ thể có thể đi đến sự thông nhất hay không. Có 3 yếu tố quan trọng trong quá trình thương thuyết là thông tin, thời gian và quyền lực.
Bên nào thu thập được nhiều thông tin hơn về tình hình cơ bản và nhu cầu của bên đối tác hơn, làm chủ được thời gian hơn và có sức mạnh quyền uy hơn so với bên đối tác sẽ dễ dàng có được thành công hơn trong quá trình cuộc thương lượng. Có một số lưu ý để cuộc thương lượng đạt kết quả cao, mang lại lợi ích cho cả hai bên chủ thể đó là: Xây dựng tinh thần thương lượng đôi bên cùng có lợi; để bên phía đối tác bắt đầu trước và tìm hiểu rõ tất cả các yêu cầu; để đối tác làm tất cả những gì họ có thể làm; giấu đi kế sách của mình; cố gắng đạt được gì đó khi mình đưa ra sự thỏa hiệp; tránh sự ràng buộc; nghe nhiều hơn nói; nhận diện và phân loại chính xác đối tác thương lượng. Kết thúc thương lượng Trong giai đoạn kết thúc thương lượng, các bên tham gia cần thực hiện những công việc: Thống nhất lại những gì đã thỏa thuận được Khi kết thúc thương lượng, tất cả những nội dung vấn đề thỏa thuận sẽ được tập hợp hệ thống lại trước khi được ghi thành văn bản. Các chủ thể phải xác lập lại rằng đã hiểu rõ những gì đã thống nhất được trong suốt quá trình đã thương lượng.
Bên cạnh đó, các chủ thể cũng cần xác định rõ những hậu quả sẽ phải gách chịu nếu không thực hiện tuân thủ theo những cam kết, quy định và những việc phải làm sau khi thỏa thuận đã được ký kết. Văn bản hóa các kết quả đã đạt được Các nội dung đã được thỏa thuận trong quá trình thương lượng cần phải được thể hiện rõ ràng, chính xác lại bằng văn bản. Văn bản này có được xây dựng dưới dạng các bản thỏa thuận nên thường được cấu trúc thành các chương, điều, khoản, mục,…. Các văn bản sản phẩm của thương lượng thường là hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, thỏa thuận công việc,… Ký bản thỏa thuận Các văn bản xác lập kết quả thương lượng lao động được xây dựng khi đã đạt được mục tiêu thương lượng đặt ra.
Văn bản này chỉ có giá trị pháp lý khi cả hai bên chủ thể tham gia thương lượng cùng ký kết. Văn bản này thường sẽ được ký thành nhiều bản, mỗi bên đối tác sẽ giữ một bản và những bản còn lại sẽ được gửi tới các cơ quan thẩm quyền theo quy định của pháp luật Nhà nước. Ghi chép và lưu giữ hồ sơ Ghi chép hồ sơ cuộc thương lượng là công việc mà mỗi bên đối tác cần chủ động thực hiện một cách cẩn thận và chính xác. Ghi lại diễn biến của quá trình thương lượng sẽ giúp chủ thể có được thông tin phục vụ cho các cuộc thương lượng tiếp theo.
Và đây cũng là chứng cứ chứng minh kết quả của cuộc thương lượng. Việc ghi chép cần thực hiện một cách đầy đủ, chính xác các công việc và kết quả đã đạt được trong từng giai đoạn của cuộc thương lượng. Nên ghi những ý chính, theo trật tự logic để dễ đọc, dễ phân biệt được ý kiến quan điểm các các bên, các vấn đề còn vướng mắc, đang trao đổi và cần giải quyết. Việc lưu trữ hồ sơ thương lượng là công việc rất cần thiết.
Các hồ sơ lưu trữ bao gồm: Văn bản ghi chép dưới hình thức biên bản tiến trình cuộc thương lượng đã hoàn thành; Văn bản thảo thuận giữa hai chủ thể đã có đủ chữ ký của các bên tham gia thương lượng; Báo cáo về thương lượng. Tất cả những hồ sơ này phải đảm bảo rằng được lưu lại trong hồ sơ của các bên chủ thể. Cần lưu trữ một cách cẩn thận và sắp xếp khoa học để thuận tiện cho việc tra cứu sau này. 14 Đánh giá kết quả thương lượng Kết quả thương lượng có thể tồn tại ở 4 dạng đó là: Dạng thắng – thua: đây là kết quả khi người lao động đạt được hầu hết các yêu cầu đặt ra còn, người sử dụng lao động không đạt được kết quả gì hoặc đạt được rất ít.
Dạng thua – thắng: đây là kết quả xảy ra khi người lao động không đạt được kết quả gì hoặc đạt được rất ít còn người sử dụng lao động lại đạt được hầu hết các yêu cầu đã đặt ra. Dạng thua – thua: kết thúc thương lượng mà cả hai bên đều không đạt được thỏa thuận chung, xung đột về lợi ích trở nên gay gắt hơn. Dạng thắng – thắng: cả hai bên chủ thể đều đạt được một số mục tiêu trên cơ sở những mục tiêu đã đặt ra sau khi kết thúc quá trình thương lượng. Lợi ích chung tăng lên, lợi ích xung đột đã được giảm xuống ở mức có thể chấp nhận.
Sau khi hoàn thành thương lượng lao động, các chủ thể cần phải đánh giá lại kết quả của cuộc thương lượng để xác định mức độ hoàn thành các mục tiêu thương lượng được đề ra trước đó. Từ đó các chủ thể cũng có thể đánh được năng lực bản thân và rút ra những bài học kinh nghiệm từ cuộc thương lượng. Các nhân tố ảnh hưởng đến thương lượng trong quan hệ lao động của doanh nghiệp a. Mục tiêu thương lương Mục đích của thương lượng là đạt đến một thỏa thuận về các vấn đề mà bên quan tâm và thường là nguyên nhân xảy ra xung đột.
Bản chất của mọi xung đột chính là sự khác biệt và mâu thuẫn về lợi ích giữa các chủ thể trong quan hệ lao động. Dù rằng chủ thể nào cũng muốn tăng lợi ích của mình và giảm đi lơi ích của đối tác, điều này không đối tác nào mong muốn và dễ dàng chấp nhận nếu không được đánh đổi bằng một lợi ích khác. Thời điểm tiến hành thương lượng Thời điểm thực hiện thương lượng là vào bất kì thời điểm nào một khi bên đối tác có yêu cầu và báo trước. Tại Việt Nam, trong Bộ luật Lao động năm 2012 tại Điều 68 chương 5 có nêu rõ quyền được yêu cầu thương lượng của các chủ thể.
Thương lượng được sử dụng như một công cụ hữu hiệu trong tất cả các giai đoạn trước (thương lượng để thống nhất các điều kiện thiết lập quan hệ lao động), trong (thương lượng để phòng và giải quyết các mâu thuẫn phát sinh trong quan hệ lao động) và sau khi thiết lập mối quan hệ lao động (thương lượng để xác định các tránh nhiệm còn lại sau khi chấm dứt mối quan hệ lao động)… Thông thường để đảm bảo việc thương lượng có hiệu quả, thương lượng được 15 chia thành hai loại là thương lượng định kỳ và thương lượng đột xuất. Thông thường thương lượng lao động được tiến hành thích hợp nhất vào thời điểm thiết lập mối quan hệ lao động cá nhân, quan hệ lao động tập thể và trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động. Năng lực chủ thể tham gia thương lượng Năng lực của chủ thể tham gia thương lượng thể hiện ở chính khả năng hành vi của chủ thể đó khi họ tham gia vào quá trình thương lượng. Năng lực chủ thể được thể hiện qua: các kỹ năng thu thập thông tin, phân loại thông tin, đề ra mục tiêu và xác lập thứ tự ưu tiên các mục tiêu,… cho quá trình chuẩn bị thương lượng và các kỹ năng cần thiết cho quá trình tiến hành thương lượng như lắng nghe, quan sát, giao tiếp, trình bày lập luận, hỏi đáp,… Chủ thể nào có thể thể hiện các kỹ năng một các nhuần nhuyễn, thành thạo sẽ có được sự chủ động, tự tin trong quá trình thương lượng.
Đặc biệt quan trọng là các kiến thức của các chủ thể về Pháp luật hiện hành của Nhà nước, việc nắm bắt các thông tin pháp luật một cách chính xác và kịp thời sẽ giúp chủ thể nắm rõ được quyền và nghĩa vụ của bản thân trong quá trình thực hiện thương lượng, từ đó việc xác lập các mục tiêu của bản thân phù hợp với thực tiễn và có thể dễ dàng đem về phần thắng trong thương lượng cho chủ thể thương lượng. Vị thế của các chủ thể tham gia thương lượng Trên bàn thương lượng mỗi bên trong quan hệ lao động đều có quyền như nhau, các bên tự do thỏa thuận về các vấn đề phù hợp với đặc điểm và điều kiện của mình trong khuôn khổ pháp luật và hệ thống chính sách của Nhà nước.