Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG TH 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về CNH, HĐH 1. Cơ sở lý luận CNH, HĐH 1. Khái niệm CNH, HĐH Trên thế giới, cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra ở Tây Âu thế kỷ thứ XVII, khi đó công nghiệp hóa đƣợc hiểu là quá trình thay thế lao động thủ công bằng sử dụng lao động máy móc.
Khái niệm CNH cũng biến đổi gắn với từng giai đoạn của sự phát triển lực lƣợng sản xuất và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật - công nghệ. Do đó, nhận thức đúng đắn về khái niệm này trong từng giai đoạn phát triển của nền sản xuất xã hội có ý nghĩa to lớn về cả phƣơng diện lý luận và thực tiễn trong tiến trình xây dựng CNH, HĐH đất nƣớc. Ở Việt Nam, sự nghiệp công nghiệp hóa đất nƣớc đƣợc Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam khởi xƣớng từ Đại hội III (1960), trong điều kiện đất nƣớc có chiến tranh. Vì vậy, quá trình xây dựng và phát triển công nghiệp hóa đất nƣớc gặp nhiều khó khăn, chất lƣợng và hiệu quả công nghiệp hóa không cao dẫn đến năng suất lao động thấp, đời sống nhân dân nhiều khó khăn.
Do đó, yêu cầu phải đổi mới toàn diện tại Đại hội VI (1986) trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế - xã hội, văn hóa; đặc biệt là đổi mới về tƣ duy kinh tế. Nghị quyết Trung ƣơng 7 khóa VII (1/1994) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã có bƣớc đột phá mới trong nhận thức mới về công nghiệp hóa đất nƣớc. Lần đầu tiên đƣa ra khái niệm CNH, HĐH: “CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ việc sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phƣơng tiện và phƣơng Luan van 8 pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”. Nhƣ vậy, chủ trƣơng của Đảng phát triển CNH phải gắn liền với HĐH đầu từ Nghị quyết Trung ƣơng 7 khóa VII (1/1994), nhằm thực hiện phƣơng châm “đi tắt, đón đầu”, lựa chọn công nghệ tiến tiến, hiện đại ứng dụng vào xây dựng công nghiệp hóa đất nƣớc để tạo ra năng suất lao động cao, nhằm hiện thực hóa mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
CNH, HĐH nông nghiệp Lịch sử chứng minh, sự phát triển của nền nông nghiệp trên thế giới và các nƣớc trong khu vực đã chỉ ra, không thể xây dựng một nền nông nghiệp bền vững, năng suất lao động cao, trong khi ngƣời nông dân chỉ có sức lao động cơ bắp với những công cụ lao động giản đơn và sức kéo của động vật. Chỉ khi nông nghiệp đƣợc sử dụng một cách phổ biến dựa trên sức lao động của ngƣời nông dân gắn với máy móc phƣơng tiện, phƣơng pháp hiện đại thì mới tạo ra nền nông nghiệp háng hóa, có chất lƣợng sản phẩm và giá trị cao, có uy mô lớn gắn với nông nghiệp chế biến và xuất khẩu. Thực tế Việt Nam hiện nay là một nƣớc có dân số đông, nông dân chiếm 70% dân số, canh tác trên lĩnh vực nông, lâm, ngƣ nghiệp. Trình độ tay nghề thấp, nâng suất lao động không cao, đời sống gặp nhiều khó khăn và thiếu thốn.
Vì vậy, Nghị quyết số 15-NQ/TW/2002 về đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn đã chỉ ra: “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hƣớng sản xuất hàng hoá lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trƣờng; thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ, trƣớc hết là công nghệ sinh học đƣa thiết bị, kỹ thuật và công Luan van 9 nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá trên thị trƣờng”. Nhƣ vậy, việc đẩy mạnh CNH, HĐH NN nhằm chuyển từ quy mô sản xuất nhỏ, sang sản xuất lớn theo hƣớng sản xuất hàng hóa, gắn với thị trƣờng nhằm nâng cao năng suất, sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nông dân hiện nay. CNH, HĐH nông thôn CNH, HĐH NT là quá trình chuyển đổi nền kinh tế nông thôn thuần nông nghiệp sang nền kinh tế công, nông nghiệp và dịch vụ, kèm theo đó là lối sốn và tác phong nông nghiệp chuyển sang lối sống và tác phong công nghiệp, tức hiện đại hóa nông thôn, biến đổi cơ cấu kinh tế nông thôn truyền thống sang khu vực nông thôn phát triển toàn diện và hiện đại trên nền tảng của sự phát triển khoa học, công nghệ phân công lao động và hợp tác quốc tế. Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam xác định CNH, HĐH NT là vấn đề mang tính chiến lƣợc nhằm tăng năng suất lao động, thu hẹp khoảng cách giàu – nghèo giữa thành thị và nông thôn, tạo ra sự đồng thuận xã hội.
Vì vậy, Nghị quyết số 15-NQ/TW/2002 đã đƣa ra khái niệm CNH, HĐH NT nhƣ sau: “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hƣớng tăng nhanh tỉ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỉ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trƣờng sinh thái; tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân ở nông thôn”. Nhƣ vậy, CNH, HĐH NN, NT là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân. Do đó, cần quán triệt quan điểm “Đảng, Nhà nƣớc và nhân dân cùng làm” Luan van 10 nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cơ sở thực tiễn về CNH, HĐH 1.
Tính tất yếu, khách quan CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân ở Việt Nam CNH, HĐH (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn có tầm quan trọng đặc biệt đối với phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống của nông dân: Thứ nhất, nƣớc ta là nƣớc đông dân cƣ sống ở nông thôn, với gần 70% dân số sống ở nông thôn, hơn 47% lao động làm nông nghiệp; tốc độ tăng dân số ở nông thôn hiện vẫn cao; ruộng đất bình quân đầu ngƣời thấp và có xu hƣớng giảm do quá trình đô thị hóa, mở rộng xây dựng kết cấu hạ tầng; trình độ sản xuất nông nghiệp còn thấp, kỹ thuật thủ công là chủ yếu. Thứ hai, nông nghiệp, nông thôn góp một phần quan trọng trong quá trình tích lũy vốn cho CNH, HĐH; là khu vực kinh tế - xã hội có vị trí chiến lƣợc cực kỳ quan trọng, liên quan đến việc giải quyết những vấn đề đời sống cơ bản của đại đa số dân cƣ, nhƣ tạo việc làm cho lao động dƣ thừa ở nông thôn, tăng thu nhập cho nông dân, tăng sức mua của thị trƣờng nông thôn, tăng tỷ trọng trong GDP và tăng đóng góp vào ngân sách nhà nƣớc. Thứ ba, kinh tế nông nghiệp, nông thôn vẫn chƣa ra khỏi tình trạng yếu kém, chậm phát triển. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ, phân tán; năng suất, chất lƣợng, giá trị gia tăng nhiều mặt hàng thấp.
Đời sống vật chất và tinh thần của ngƣời dân nông thôn chƣa đƣợc cải thiện đáng kể, chƣa tƣơng xứng với thành quả của công cuộc đổi mới đất nƣớc; tỷ lệ hộ nghèo còn cao, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; chênh lệch Luan van 11 giàu - nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc. Thứ tư, thực tiễn thế giới cho thấy, đã có không ít nƣớc đi lên bằng xuất khẩu nông sản, nhƣ Ô-xtrây-li-a, Ác-hen-ti-na, Ca-na-đa,. Đối với một số nƣớc khác, phát triển nông nghiệp là biện pháp chủ yếu để hình thành thị trƣờng trong nƣớc; cũng có nƣớc lấy phát triển nông nghiệp và công nghiệp nông thôn là biện pháp cơ bản giải quyết phần tất yếu của đời sống kinh tế trong thời kỳ đầu CNH. Thứ năm, đối với một nƣớc đi lên chủ nghĩa xã hội từ nông nghiệp lạc hậu thì vấn đề mấu chốt là phát triển nền nông nghiệp hàng hóa để cấu trúc lại nền kinh tế theo hƣớng sản xuất lớn, hiện đại.
Tình hình thực tế của nƣớc ta cũng nhƣ bài học của một số nƣớc Đông Nam Á càng khẳng định vai trò rất quan trọng của nông nghiệp và kinh tế nông thôn đối với sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc, nhất là các nƣớc đang phát triển đi lên từ nông nghiệp. Trƣớc mắt cũng nhƣ lâu dài, phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hƣớng CNH, HĐH là cơ sở để đẩy mạnh CNH, HĐH đất nƣớc theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Thứ sáu, nông thôn là nguồn cung cấp nhân lực chủ yếu để thực hiện CNH, HĐH. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hƣớng phát triển công nghiệp, dịch vụ đồng thời cũng là quá trình chuyển lao động từ ngành nông nghiệp sang ngành công nghiệp và dịch vụ theo hƣớng lao động công nghiệp, dịch vụ tăng tuyệt đối và tƣơng đối, còn lao động nông nghiệp giảm tuyệt đối và tƣơng đối.2 Sự tác động CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn đến việc làm, thu nhập ở khu vực nông thôn * Tác động tích cực của CNH, HĐH NN, NT đến việc làm, thu nhập ở khu vực nông thôn Luan van 12 Quá trình CNH, HĐH NN, NT góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng tăng tỷ trọng trong các ngành công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng trong ngành nông nghiệp.
Vì vậy, dẫn đến chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo ra nhiều việc làm, tăng thu nhập cho ngƣời lao động. Việc đẩy nhanh CNH, HĐH NN, NT đƣa đến kết cấu hạ tầng cơ sở ngày càng khang trang, hiện đại góp phần thúc đẩy các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, lƣu thông, trao đổi hàng hóa ngày càng gia tăng. Chính điều này, mở ra cơ hội, việc làm cho ngƣời lao động nông thôn.