Chương 1: Cơ sở lý luận về chiến lược kinh doanh và xây dựng chiến lược kinh doanh. Chương 2: Phân tích chiến lược kinh doanh của Công ty Cổ phầnthương mại và đầu tư xây dựng Poscom. Chương 3: Đề xuất và lựa chọn chiến lược kinh doanh cho Công ty Cổ phần thương mại và đầu tư xây dựng Poscom, giai đoạn 2020 - 2030. 5 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN Về CHIẾN LƢỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.Một số vấn đề chung về chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp 1.
Khái niệm chiến lược kinh doanh Khái niệm chiến lƣợc có từ thời Hi lạp cổ đại, là một thuật ngữ quân sự đƣợc dùng để chỉ kế hoạch dàn trận và phân bổ lực lƣợng với mục tiêu đánh thắng kẻ thù. Carl von Clausewitz - nhà binh pháp ngƣời Phổ thế kỷ 19 - đã mô tả chiến lƣợclà “lập kế hoạch chiến tranh và hoạch định các chiến dịch tác chiến”. Cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, cùng với sự phát triển của xã hội, quan niệm về chiến lƣợc không chỉ giới hạn trong quân sự mà còn đƣợc mở rộng tới tất cả các lĩnh vực nhƣ: Chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế … Theo Alfred Chandler (năm 1962) - một trong những ngƣời đầu tiên khởi xƣớng lý thuyết quản trị chiến lƣợc - “Chiến lược là việc xác định các mục tiêu, mục đích cơ bản dài hạn của doanh nghiệp và việc áp dụng một chuỗi các hành động cũng như việc phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu này”. Đến những năm 1980, khi lý luận về quản trị chiến lƣợc đã đƣợc nghiên cứu chín muồi, Jame Brian Quinn (1993) đã đƣa ra định nghĩa có tính khái quát hơn “Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách, và chuỗi hành động vào một tổng thể được cố kết một cách chặt chẽ”.
Tiếp cận theo quan điểm cạnh tranh, Micheal E. Porter (2009) Chiến lƣợc kinh doanh là một nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ và cho rằng: “Chiến lược là việc tạo ra một sự hài hòa giữa các hoạt động của một công ty. Sự thành công của chiến lược chủ yếu dựa vào việc tiến hành tốt nhiều việc và kết hợp chúng với nhau, cốt lõi của chiến lược là lựa chọn cái chưa làm”. Bruc Henderson, chiến lƣợc gia đồng thời là nhà sáng lập Tập đoàn tƣ vấn Boston (BCG) đã kết nối khái niệm chiến lƣợc với lợi thế cạnh tranh.
Henderson viết rằng “Chiến lược là sự tìm kiếm thận trọng một kế hoạch hành động để phát triển và kết hợp lợi thế cạnh tranh của tổ chức. Những điều khác biệt giữa bạn và đối thủ cạnh tranh là cơ sở cho lợi thế của bạn”.Glueck (2009), chiến lƣợc kinh doanh là một kế hoạch thống nhất tính toàn diện và tính phối hợp, thiết kế để đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp sẽ thực hiện. Tóm lại, có thể hiểu “chiến lƣợc kinh doanh” là tập hợp những quyết định và hành động kinh doanh hƣớng mục tiêu để các nguồn lực của công ty đáp ứng đƣợc những cơ hội và thách thức từ bên ngoài. 6 Nhƣ vậy, theo định nghĩa trên thì điểm đầu tiên của chiến lƣợc kinh doanh có liên quan đến mục tiêu của Công ty.
Đó chính là điều mà các nhà quản trị thực sự quan tâm. Có điều, những chiến lƣợc kinh doanh khác nhau sẽ xác định những mục tiêu khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm, thời kỳ kinh doanh của từng công ty. Tuy nhiên việc xác định, xây dựng và quyết định chiến lƣợc kinh doanh hƣớng mục tiêu là chƣa đủ mà nó đòi hỏi mỗi chiến lƣợc cần đƣa ra những hành động hƣớng mục tiêu cụ thể, hay còn gọi là cách thức làm thế nào để đạt mục tiêu đó. Điểm thứ hai là chiến lƣợc kinh doanh không phải là những hành động riêng lẻ, đơn giản.
Điều đó sẽ không dẫn đến một kết quả to lớn nào cho công ty. Chiến lƣợc kinh doanh phải là tập hợp các hành động và quyết định hành động liên quan chặt chẽ với nhau, nó cho phép liên kết và phối hợp các nguồn lực tập trung giải quyết một số vấn đề cụ thể của công ty nhằm đạt đƣợc mục tiêu đề ra. Nhƣ vậy, hiệu quả hành động sẽ cao hơn, kết quả hoạt động sẽ to lớn nếu nhƣ chỉ hoạt động đơn lẻ thông thƣờng. Điều mà có thể gắn kết các nguồn lực cùng phối hợp hành động hƣớng tới mục tiêu của công ty.
Điểm thứ ba là chiến lƣợc kinh doanh cần phải đánh giá đúng đƣợc điểm mạnh, điểm yếu của mình kết hợp với những thời cơ, và thách thức từ môi trƣờng. Điều đó sẽ giúp cho các nhà quản trị của công ty tìm đƣợc những ƣu thế cạnh tranh và khai thác đƣợc những cơ hội nhằm đƣa công ty chiếm đƣợc vị thế chắc chắn trên thị trƣờng trƣớc những đối thủ cạnh tranh. Điểm cuối cùng là chiến lƣợc kinh doanh phải tính đến lợi ích lâu dài và đƣợc xây dựng theo từng giai đoạn mà tại đó chiến lƣợc đòi hỏi sự nỗ lực của các nguồn lực khác nhau tùy thuộc vào yêu cầu của mục tiêu đề ra ở từng thời kỳ. Do vậy các nhà quản trị phải xây dựng thật chi tiết từng nhiệm vụ của chiến lƣợc ở từng giai đoạn cụ thể.
Đặc biệt cần quan tâm tới các biến số dễ thay đổi của môi trƣờng kinh doanh. Bởi nó là nhân tố ảnh hƣởng rất lớn đến mục tiêu của chiến lƣợc ở từng giai đoạn. Vai trò của chiến lược kinh doanh trong doanh nghiệp Thực tế nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, rất ít quan tâm đến vấn đề chiến lƣợc, thậm chí không xác định đƣợc cho mình một chiến lƣợc. Nguyên nhân cơ bản là do chƣa nhận thức rõ vai trò của chiến lƣợc.
Trƣớc hết, chúng ta phải nhận thức rõ ràng bất cứ tổ chức hay doanh nghiệp nào (dù quy mô lớn hay quy mô nhỏ) đều cần phải có chiến lƣợc. Đây không chỉ là mong muốn có hay không một chiến lƣợc mà điều này thể hiện kiến thức về khoa học chiến lƣợc của các nhà quản lý 7 doanh nghiệp.Vai trò của chiến lƣợc kinh doanh đƣợc thể hiện trên một số khía cạnh: a. Chiến lƣợc kinh doanh giúp doanh nghiệp định hƣớng cho hoạt động của mình trong tƣơng lai thông qua việc phân tích và dự báo môi trƣờng kinh doanh. Kinh doanh là một hoạt động luôn chịu sự ảnh hƣởng của các yếu tố bên ngoài và bên trong.
Chiến lƣợc kinh doanh giúp doanh nghiệp nắm bắt đƣợc đầy đủ điểm mạnh, điểm yếu, các cơ hội cũng nhƣ nguy cơ. Từ đó, giúp doanh nghiệp tận dụng tốt nhất các cơ hội kinh doanh; khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn lực; chủ động thích ứng với biến động của thị trƣờng - góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động, nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế của doanh nghiệp. Chiến lƣợc kinh doanh giúp doanh nghiệp liên kết đƣợc các cá nhân với những lợi ích khác cùng hƣớng tới một mục đích chung vì sự phát triển của doanh nghiệp; đồng thời tạo mối liên kết gắn bó giữa các nhân viên với nhau và giữa các nhà quản lý với nhân viên. Qua đó tăng cƣờng và nâng cao hơn nữa năng lực nội tại của doanh nghiệp.
Chiến lƣợc kinh doanh là công cụ cạnh tranh có hiệu quả của doanh nghiệp trong môi trƣờng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế ngày càng sâu, rộng hiện nay. Nhƣ vậy, với chiến lƣợc kinh doanh đúng đắn sẽ tạo một hƣớng đi tốt cho doanh nghiệp, chiến lƣợc kinh doanh có thể coi nhƣ kim chỉ nam dẫn đƣờng cho doanh nghiệp đi đúng hƣớng. Các cấp chiến lược trong doanh nghiệp Theo Garry D. Các hoạt động cũng nhƣ các quyết định chiến lƣợc của ba cấp này phải nhất quán, hỗ trợ lẫn nhau nhằm đáp ứng với những thay đổi của môi trƣờng bên ngoài.
8 Chiến lƣợc Hội đồng quản trị; cấpdoanh nghiệp Ban Giám đốc Corporate straregy Chiến lƣợc cấp kinh doanh SBU 1 SBU 2 SBU 3 StrategicBusinessU nit-SBU Chiến lược cấp chức năng Các chức năng Các chức năng Các chức năng Functional KD cho SBU1 KD cho SBU2 KD cho SBU3 strategy Thị trƣờng A Thị trƣờng B Thị trƣờng C Hình 1.1: Ba cấp chiến lƣợc trong doanh nghiệp Nguồn: Garry D. Chiến lược cấp doanh nghiệp (Corporate straregy) thƣờng do Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm xây dựng. Chiến lƣợc doanh nghiệp liên quan đến mục tiêu tổng thể và quy mô của doanh nghiệp để đáp ứng những kỳ vọng của cổ đông. Đây là lời công bố về mục tiêu dài hạn, các định hƣớng phát triển của tổ chức.
Thông thƣờng, chiến lƣợc doanh nghiệp trả lời câu hỏi then chốt: “Doanh nghiệp đã, đang và sẽ hoạt động trong ngành kinh doanh hoặc những ngành kinh doanh nào?” b. Chiến lược cấp kinh doanh (Strategic Business Unit-SBU) liên quan nhiều hơn tới việc làm thế nào doanh nghiệp hay một hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có thể cạnh tranh thành công trên một thị trƣờng (hoặc một đoạn thị trƣờng) cụ thể. Do vậy, chiến lƣợc kinh doanh liên quan khá nhiều đến các quyết định chiến lƣợc về việc lựa chọn sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, giành lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ, khai thác và tạo ra đƣợc các cơ hội mới … Chiến lƣợc kinh doanh phải chỉ ra đƣợc cách thức doanh nghiệp cạnh tranh trong các ngành kinh doanh khác nhau, xác định vị thế cạnh tranh cho đến các đơn vị kinh doanh chiến lƣợc (SBU) và làm thế nào để phân bổ các nguồn lực hiệu quả nhất. Chiến lược cấp chức năng (Functional strategy) liên quan tới từng bộ phận chức năng (sản xuất, marketing, tài chính, hệ thống thông tin …) trong doanh nghiệp sẽ đƣợc tổ chức nhƣ thế nào để thực hiện đƣợc mục tiêu chiến lƣợc kinh doanh.
Một chiến lƣợc chức năng là một lời công bố chi tiết về mục tiêu và phƣơng thức hành động ngắn hạn đƣợc các bộ phận chức năng sử dụng nhằm đạt đƣợc mục tiêu ngắn hạn của các SBU và mục tiêu dài hạn của tổ chức. Bởi vậy, chiến lƣợc chức năng tập trung vào các vấn đề về nguồn lực, quá trình xử lý và con ngƣời. Dù ở cấp độ nào, các chiến lƣợc cũng tuân theo một quy trình cơ bản, đó là: Phân tích môi trƣờng, Xác định nhiệm vụ và mục tiêu, Phân tích lựa chọn chiến lƣợc, Thực hiện và Kiểm soát.