Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và nguồn tư liệu. Đây là chương giới thiệu tổng quan tình hình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước liên quan trực tiếp và gián tiếp đến đề tài nghiên cứu; khái quát về các nguồn tư liệu tham khảo; những vấn đề đã được giải quyết và những vấn đề tiếp tục được đặt ra trong phạm vi nghiên cứu của đề tài. Bối cảnh lịch sử và tổ chức quân đội dưới triều Nguyễn giai đoạn 1802-1884.
8 Chương này trình bày những yếu tố tác động và cơ sở của chính sách đãi ngộ đối với quân đội dưới triều Nguyễn giai đoạn 1802-1884. Nội dung của chương đề cập đến các vấn đề: bối cảnh lịch sử thế giới và trong nước; cơ cấu tổ chức, lực lượng và nhiệm vụ của quân đội của triều Nguyễn. Chế độ đãi ngộ đối với võ quan dưới triều Nguyễn giai đoạn 1802-1884. Đây là chương trình bày chế độ đãi ngộ bao gồm chính sách đãi ngộ bằng lương của triều Nguyễn dành cho võ quan giai đoạn 1802-1884.
Về lương, gồm lương cho võ quan đương nhiệm và về hưu. Đãi ngộ ngoài lương gồm phụ cấp, trợ cấp và khen thưởng. Đây là những khoản ban cấp của nhà nước cho võ quan khi đi làm nhiệm vụ. Chế độ đãi ngộ đối với binh lính dưới triều Nguyễn giai đoạn 1802-1884.
Đây là chương trình bày về chế độ lương của binh lính cũng như những khoản phụ cấp cho binh lính khi đi làm nhiệm vụ đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng có khí hậu khắc nghiệt. Khi bị ốm đau, trận thương trận vong được nhà nước trợ cấp tiền, gạo, thuốc men hoặc mai táng. Những binh lính hoàn thành tốt nhiệm vụ được triều đình khen thưởng. Nhận xét, đánh giá về chế độ đãi ngộ đối với quân đội dưới triều Nguyễn giai đoạn 1802- 1884.
Từ những nội dung cụ thể đã trình bày ở chương 3 và chương 4, chương này rút ra nhận xét về sự kế thừa và hoàn thiện trong chính sách đãi ngộ của triều Nguyễn so với các triều đại trước cũng như sự thay đổi trong chính sách đãi ngộ của chính vương triều này đối với quân đội trước và sau năm 1858. Qua đó, tác giả rút ra một số đặc điểm và nhận xét về những tác động tích cực và hạn chế của chính sách đãi ngộ đối với quân đội của triều Nguyền dành cho quân đội đối với kinh tế, chính trị và xã hội Việt Nam trong thế kỷ XIX. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƢ LIỆU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Nghiên cứu về triều Nguyễn là chủ đề thu hút sự chú ý của nhiều học giả trong và ngoài nước.
Liên quan trực tiếp và gián tiếp đến quân đội triều Nguyễn nói chung và chế độ đãi ngộ cho quân đội của triều Nguyễn nói riêng có thể kể đến một số công trình dưới đây: 1. Một số nghiên cứu của các học giả nước ngoài Ở phương Tây, Alexander Barton Woodside (1971) cách đây gần nửa thế kỉ đã cho xuất bản cuốn Vietnam and the Chinese model: A comparative study of Nguyễn and Ch’ing civil government in the first half of the nineteenth century (Việt Nam và mô hình Trung Hoa - Một nghiên cứu so sánh giữa chính quyền Việt Nam với chính quyền Trung Hoa trong nửa đầu thế kỷ 19) do nhà xuất bản Đại học Harvard ấn hành. Với công trình này, Alexander Woodside đã đi sâu nghiên cứu và đối sánh về tổ chức bộ máy, hệ thống quan lại và các chế độ tuyển bổ, thi cử… của triều Nguyễn. Phần liên quan đến tài chính, lương bổng cho quân đội chưa có điều kiện đề cập rõ song công trình này cũng gợi mở nhiều điều cho tác giả khi muốn so sánh mô hình tổ chức nói chung và cũng như cá chính sách dành cho quân đội của hai nhà nước nói riêng.
Trong bài viết “Politics and society in Viet nam during the early Nguyen period (1802-62)” của tác giả R.Smith (1974) trên tạp chí Journal of the Royal Asiatic Society, số 2, tháng 7 năm 1974, trang 153 – 169 cũng đã đề cập tới một số khía cạnh của chế độ đãi ngộ của triều Nguyễn đối với võ quan. Trong bài viết này, để nhằm sáng tỏ đặc điểm của chế độ chính trị của vương triều Nguyễn thông qua mối quan hệ giữa mục đích cầm quyền với việc sử dụng quan lại một số võ quan đã được tác giả nhắc tới trong bài viết tiêu biểu là Nguyễn Công Trứ và Trương Minh Giảng. Đây là hai võ quan có công lao lớn đối với triều Nguyễn trong công cuộc đánh dẹp các cuộc nổi dậy chống lại triều đình ở Bắc kỳ và Nam Kỳ. Thông qua hành trạng thăng trầm của hai vị võ quan được đề cập trong bài viết, tác giả có cách nhìn nhận khách quan về chế độ thưởng phạt của các vua triều Nguyễn đối với võ quan khi lập công cũng như phạm tội.
10 Tác giả bài viết cũng đề cập đến Lê Quang Định (1759-1813), người có công đối đánh Tây Sơn ở Gia Định được vua Gia Long phong làm thượng thư đầu tiên của bộ Binh dưới triều Nguyễn. Đây là dẫn chứng sinh động thể hiện chính sách đối với công thần của triều Nguyễn. Ngoài ra, trong bài viết tác giả cũng đưa ra một số dữ liệu về tổ chức và quy mô của quân đội triều. Về quy mộ, tác giả dẫn lời của một học giả cho rằng năm 1823 quy mô quân đội của triều Nguyễn có lẽ không vượt quá 40.000 người trong đó có khoảng 150.000 người được trang bị vũ khí.
Quân đội tăng lên trong những năm 1830, nhưng vào thời điểm Pháp xâm lược năm 1858, số lượng quân giảm xuống. Đây là những thông tin quan trọng để tác giả luận án đánh đánh giá sự biến động về số lượng quân đội dưới triều Nguyễn và là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện chế độ đãi ngộ của triều Nguyễn dành cho quân đội. Tác giả Nola Cooke (1999) với bài viết “Southern regionalism and the composition of the Nguyen ruling elite (1802-83)” in trên tạp chí Asian Studies Review số 2 tháng 6 nằm 1999 trang 205-231cũng đã đề cập đến chế độ đãi ngộ của triều Nguyễn đối với võ quan triều Nguyễn. Dựa trên số liệu và dẫn chứng trong các tư liệu về lịch sử và giáo dục của triều Nguyễn như: Đại Nam liệt truyện, Đại Nam thực lục tiền biên và chính biên, Quốc triều hương khoa lục tác giả nói lên lên sự ưu ái của triều Nguyễn đối với quan lại có quê quán ở các tỉnh thuộc từ Đàng Trong trở vào nhất là các tỉnh Nam kỳ từ những năm 30 của thế kỷ XIX trở về trước.
Chính sách đó bao gồm: ưu ái cho con cái các công thần (đãi ngộ cho con trai của công thần có công được phép chọn địa điểm thi dưới thời vua Gia Long); một số quan lại có quyền lực trong bộ máy hành chính xuất thân là những người không hoặc đỗ đạt thấp trong khoa cử; tỉ lệ đỗ đạt ở các miền vùng (khác Nam kỳ) qua các trường thi triều Nguyễn không tỉ lệ thuận với tỉ lệ số người làm quan trong triều đình. Những số liệu trên là cơ sở để tác giả đưa ra những nhận xét và kết luận về chính sách đãi ngộ đối với công thần của triều Nguyễn nhất là đối với bộ phận võ quan trong quân đội. Công trình nghiên cứu “The last emperors of Vietnam: from Tu Duc to Bao Dai” của tạp chí Contributions in Asian studies số 7 năm 2000 nằm trong các chuyên đề về Việt Nam thế kỷ XIX, XX của nhà xuất bản Greenwood, Mỹ của tác giả Oscar Chapuis đã đề cập đến tình hình chính trị và xã hội dưới các triều vua từ 11 vua Tự Đức đến vua Bảo Đại. Trong nội dung viết về triều vua Tự Đức, tác giả đưa ra những dẫn chứng bối cảnh triều Nguyễn trước khi thực dân Pháp xâm lược.
Thay lời kết luận tác giả dẫn lời kết luận của Trần Trọng Kim trong cuốn Việt Nam sử lược, cho rằng sự túng quẫn, thiếu thốn, thiên tai, ngoại xâm, sự bất lực của chính quyền… vào cuối thời Tự Đức là những nguyên nhân khiến nước Việt Nam suy tàn. Những nội dung về số lượng quân đội triều Nguyễn sau khi mất 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ mà tác giả bài viết đề cập đến là những nội dung liên quan trực tiếp tới đề tài. Tác giả cho rằng, quân đội sau khi tuyển vào năm 1862, chỉ 10% quân đội được trang bị súng hỏa mai; huấn luyện diễn ra mỗi năm một lần, trong đó mỗi người lính chỉ nhận được sáu viên đạn, và nếu anh ta bắn nhiều hơn chỉ tiêu được giao này, anh ta phải trả cho phần chênh lệch. Lực lượng quân lính được điều động từ Bắc Kỳ vào Nam kỳ tuy nhiên số quân lính có mặt ở Nam kỳ cùng triều đình tham gia chiến đấu trên thực tế nhỏ hơn ghi chép của triều đình.
Tác giả dẫn số liệu cho rằng: số binh lính theo ghi chép có 119.000 được sai phái vào Nam Kỳ, nhưng thực tế chỉ có 39.000 người có mặt. Khi Pháp tấn công Gia Định, lực lượng quân đội triều Nguyễn chỉ có 7. Không quân dự trữ nên trong trường hợp có thương vong, các sĩ quan quân đội sẽ đến những ngôi làng gần đó để tuyển quân thay thế. [14; 205] Ngoài ra, tác giả cũng đề cập cụ thể số binh lính và các hoạt động chống Pháp của quân đội triều đình kháng chiến chống Pháp ở Đà Nẵng.
Cụ thể ở Đà Nẵng có 2.000 quân do Lê Đình Lý và 10.000 quân của Nguyễn Tri Phương. Những con số về số lượng quân lính trên một mặt thấy được số lượng tiền và lương thực để phụ cấp cho binh lính đi làm nhiệm vụ đồng thời cũng đánh giá được những khó khăn về lực lượng của quân đội triều Nguyễn trước nhiệm vụ bảo vệ độc lập dân tộc. Frédéric Mantienne (2003) với bài viết The transfer of Western military technology to Vietnam in the late eighteenth and early nineteenth centuries: the case of the Nguyen (Sự chuyển giao kĩ nghệ phương Tây cho Việt Nam giai đoạn cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX: Trường hợp vương triều Nguyễn”) đăng trên Journal of Southeast Asian Studies tập 34, số 3, trang 519-534, đã giới thiệu về hệ thống gồm 32 thành trì của Việt Nam được xây dựng theo kỹ thuật quân sự của 12 phương Tây trong giai đoạn cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX. Tác giả cũng đề cập đến việc vua Gia Long thời Nguyễn đã nỗ lực học kĩ thuật đóng tàu của phương Tây và còn mong muốn đóng được tàu chạy bằng hơi nước tân tiến nhất thời bấy giờ (dù không thành công).