CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TRIỀU NGUYỄN VÀ ĐỘI NGŨ TIẾN SĨ TRƯỚC TRIỀU NGUYỄN 1. Tổng quan về triều Nguyễn 1. Chính trị 1. Tổ chức bộ máy nhà nước Ở Trung ương Sau khi thành lập, vương triều Nguyễn đã thường hưởng được thành quả to lớn của phong trào nông dân Tây Sơn trong sự nghiệp thống nhất đất nước, làm chủ một lãnh thổ dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, bao gồm cả Đàng Trong và Đàng Ngoài.
Để xây dựng một vương triều vững mạnh, vua Gia Long phải giải quyết hài hòa nhưng thống nhất về chế độ chính trị khác nhau của ba miền trong buổi đầu dựng nghiệp. Do vậy, hệ thống chính quyền trung ương dưới thời Gia Long vẫn theo mô hình nhà nước thời Lê sơ. Đến đời vua Minh Mệnh (1802 - 1840), việc cải tổ, kiện toàn và hoàn thiện bộ máy nhà nước mới được thực hiện một cách quy củ và triều đình Nguyễn thật sự trở thành một nhà nước quân chủ chuyên chế phát triển đến đỉnh cao. Dưới thời Gia Long, nhà Nguyễn vẫn duy trì hệ thống các cơ quan trung ương: đứng đầu là vua - người nắm quyền hành cao nhất.
Bên dưới là 6 bộ (Lại, Bộ, Lễ, Binh, Hình, Công) chịu trách nhiệm chỉ đạo các công việc chung của nhà nước. Ban đầu khi mới thành lập, vua Gia Long chia đất nước thành 4 dinh, 7 trấn từ Thanh Hoa đến Bình Thuận, còn phía Bắc từ Sơn Nam Hạ trở ra và phía Nam từ trấn Biên Hòa trở vào chỉ quản lí gián tiếp thông qua viên Tổng trấn Bắc thành và Gia Định thành. Đây là một “biện pháp khôn khéo, linh hoạt của Gia Long trong buổi đầu nhằm thực hiện quản lý đất nước, đồng thời đảm bảo sự tồn tại an toàn của vương triều” [26, tr. Tuy nhiên, trong buổi đầu dựng cơ nghiệp thì hệ thống bộ máy chính quyền Trung ương còn đơn giản, chưa chặt chẽ về mặt thiết chế, đặc biệt là sự phân quyền trong việc quản lý một đất nước rộng lớn từ trước đến giờ.
Kế tiếp đời vua Gia Long là triều vua Minh Mệnh (1820 - 1840). Để tăng cường quyền lực tập trung, vua Minh Mạng rất có ý thức trong việc xây dựng và củng cố bộ máy nhà nước quân chủ trung ương tập quyền chặt chẽ, quy củ. Công cuộc cải tổ được tiến hành dần dần nhưng quyết liệt bắt đầu từ bộ máy hành chính của cơ quan trung ương sau đó đến các thể chế hành chính ở các địa phương. Vua Minh Mạng thành lập 7 Luan van một số cơ quan, tổ chức mới như Nội các, Cơ mật viện, bổ sung thêm chức Tham tri và Chủ sự ở các bộ, thay đổi Ngự sử đài (thời Lê) thành Đô sát viện, thay các chức Câu kê, Cai hợp bằng Thư lại, bãi bỏ Bắc thành và Gia Định thành, thiết lập đơn vị hành chính tỉnh với các chức Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, Án sát… Thời kì này bộ máy nhà nước đã mang tính tập trung, chuyên chế hơn với việc bãi bỏ các khu vực như Bắc thành và Gia Định thành, cả nước được chia thành 1 phủ và 30 tỉnh.
Kế nhiệm vua Minh Mạng là vua Thiệu Trị (1841 - 1847), Tự Đức (1847 - 1883) vẫn duy trì thiết chế nhà nước quân chủ chuyên chế, với bộ máy hành chính kiện toàn, chặt chẽ từ trung ương đến địa phương. Đồng thời cả hai vị vua trên đều ban hành những chính sách tích cực về kinh tế, xã hội, giáo dục, góp phần ổn định đất nước, luôn quan tâm đến đời sống nhân dân. Pháp luật Pháp luật là phương tiện đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của xã hội, là cơ sở để con người hoàn thiện ý thức, hành vi đạo đức của mình, nhằm xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ cương, hùng mạnh. Bên cạnh việc kiện toàn bộ máy chính quyền nhà nước, vua Gia Long đã nghĩ ngay đến việc chỉnh đốn về phát luật.
Bộ luật Gia Long chính thức được khởi soạn vào năm Tân Mùi (1811) do Nguyễn Văn Thành làm Tổng tài soạn, năm 1812 thì hoàn thành. Đến năm 1815, nhà vua cho ban hành và áp dụng rộng rãi trên phạm vi cả nước. Có thể đánh giá đây là là bộ luật đầy đủ và hoàn chỉnh nhất trong hệ thống luật cổ của nước ta và là bộ luật đầu tiên trong lịch sử phong kiến Việt Nam có sự thống nhất từ Bắc vào Nam. Bộ luật với 22 quyển, chia thành 7 chương, gồm 398 điều và 30 điều tỷ dẫn, được xây dựng chủ yếu dựa trên bộ “Đại Thanh luật lệ” của nhà Thanh (Trung Quốc) và Luật Hồng Đức (thời Lê), với 397 điều giống luật của nhà Thanh, chỉ có một điều được lấy từ Luật Hồng Đức.
Tuy nhiên, bộ luật đã được điều chỉnh cho phù hợp với đặc điểm tình hình, kinh tế, văn hóa, chính trị của nhà Nguyễn lúc bấy giờ. Phần lớn các điều được ban hành trong Luật Gia Long, đều gắn với nhiệm vụ và sự cai quản của 6 bộ (Lại, Công, Lễ, Hộ, Binh, Hình). Lại luật là những quy định về tổ chức nhà nước và hệ thống quan lại; Công luật quy định về xây dựng, bảo vệ đê điều, lăng tẩm; Lễ luật quy định về ngoại giao và nghi lễ cung đình; Hộ luật quy định về quản lý dân cư và đất đai; Binh luật quy định về tổ chức quân đội và quốc phòng; Hình luật quy định về các tội danh và hình phạt. Trong 398 điều của Luật Gia Long, có 166 điều về hình luật, 66 điều về hộ luật, 8 Luan van 10 điều về công luật.
Một số điều trong Hộ luật đã được cụ thể thành chính sách kinh tế của nhà Nguyễn. Từ việc phân chia các điều luật, có thể thấy rằng nhà Nguyễn rất quan tâm tới pháp luật trong quá trình trị nước, đặc biệt là yếu tố hình luật được đề cao, thể hiện sự hà khắc của Luật Gia Long, với mục đích bảo vệ quyền lợi và địa vị của vương triều. So với Luật Hồng Đức, thì Luật Gia Long của triều Nguyễn hà khắc hơn, nhưng nội dung và cách áp dụng rõ ràng hơn. Điều này thể hiện qua việc ban hành các nguyên tắc: Nguyên tắc luật định; nguyên tắc so sánh luật; nguyên tắc xét xử theo luật mới; nguyên tắc chiếu cố; nguyên tắc người thân thuộc được che giấu tội cho nhau; nguyên tắc truy cứu trách nhiệm hình sự; nguyên tắc luận tội theo tang vật; nguyên tắc chuộc tội bằng tiền.
Luật còn nghiêm cấm sử dụng các bản án chưa được biên soạn vào Bộ luật để làm chuẩn cho việc xét xử. Trong luật cũng quy định, nếu quan lại cố tình bao che hoặc bẻ cong sự thật, thì bị ghép vào tội vô ý hay cố ý thêm bớt tội cho người và phải thẩm xét cho rõ ràng và cải chính ngay. Sự ra đời của Luật Gia Long và cách thức trị nước gắn liền với pháp trị của triều Nguyễn có giá trị vô cùng to lớn trong dòng chảy lịch sử của pháp luật Việt Nam. Mặc dù không phải bộ luật duy nhất dưới thời phong kiến ở nước ta, nhưng có thể được coi là bộ luật lớn nhất, hoàn chỉnh và đầy đủ dưới chế độ phong kiến.
Bên cạnh những điều luật hà khắc, áp chế đối với nhân dân, còn có rất nhiều những điều luật có giá trị, mang tính nhân văn trong việc thể hiện mối quan hệ giữa các giai cấp trong xã hội. Quân đội Cũng như các triều đại phong kiến trước đó, việc xây dựng quân đội luôn là mối quan tâm hàng đầu và ưu tiên lớn của triều Nguyễn. Triều Nguyễn chủ trương xây dựng quân đội thường trực mạnh với khoảng 20 vạn quân, chia làm 4 binh chủng: bộ binh, thủy binh, pháo binh và tượng binh. Cơ cấu tổ chức và hệ thống chỉ huy khá hoàn chỉnh.
Quân đội nhà Nguyễn chia làm hai bộ phận chính quy, một bộ phận đóng ở kinh đô gọi là Vệ binh, có nhiệm vụ chính là bảo vệ Kinh thành Phú Xuân (Huế). Hệ thống tổ chức và biên chế cơ bản gồm có: - Doanh biên chế 5 vệ. - Vệ biên chế 10 đội, đứng đầu vệ là Vệ úy. - Đội biên chế 5 thập, đứng đầu đội là Suất đội.
9 Luan van - Thập biên chế 10 ngũ, do Chánh đội trưởng chỉ huy. - Ngũ gồm 5 người, do Ngũ trưởng chỉ huy. Quân đội nhà Nguyễn càng ngày càng lạc hậu do các vị vua sau này không quan tâm mấy đến việc võ bị. Dưới thời Tự Đức, công tác quốc phòng của nhà Nguyễn có sự tương phản rõ rệt với các triều trước.
Một trong các lý do khiến tình hình quân đội suy sút là vấn đề tài chính. Thời kỳ Gia Long hay Minh Mạng, lấy phương Tây làm kiểu mẫu cho việc tổ chức quân đội, hướng đến việc quân cần tinh nhuệ. Còn sang thời Tự Đức, vũ khí và trang thiết bị làm mới gần như không có. Về thuỷ binh, không tàu hơi nước nào được đóng mới, thuỷ quân thậm chí không đủ khả năng bảo vệ bờ biển chống hải tặc.
Việc giảng dạy binh pháp không chú trọng tới sách vở phương Tây nữa mà quay trở lại với “Binh thư yếu” của Trần Hưng Đạo. Đời sống quân lính không được quan tâm thoả đáng, lương thực lại bị ăn bớt. Do đó tinh thần chiến đấu của quân sĩ không cao. Nhà sử học Trần Trọng Kim đã nhận xét về việc võ bị thời Tự Đức: “Tuy bấy giờ nước ta có lính võ sinh, có quan võ tiến sĩ, nhưng mà thời đại khác đi rồi, người ta đánh nhau bằng súng nạp hậu, bằng đạn trái phá chứ không bằng gươm bằng giáo như trước nữa.
Mà quân lính của mình mỗi đội có 50 người thì chỉ có năm người cầm súng điểu thương cũ, phải châm ngòi mới bắn được, mà lại không luyện tập, cả năm chỉ có một lần tập bắn. Mỗi người lính chỉ được bắn có 6 phát đạn mà thôi, hễ ai bắn quá số ấy thì phạt. Quân lính như thế, binh khí như thế, mà quan thì lại cho lính về phòng, mỗi đội chỉ để độ chừng 20 tên tại ngũ mà thôi. Vậy nên đến khi có sự, không lấy gì mà chống giữ được ” [14, tr234].
Bên cạnh đó, quan điểm khoa học quân sự của vua quan nhà Nguyễn không hề vượt quá khuôn khổ của khoa học quân sự phong kiến. Việc không bắt kịp với thành tựu mới của khoa học phương Tây thời Tự Đức khiến quân sự Việt Nam bị lạc hậu nhiều so với phương Tây. Do đó, khi bị người Pháp đánh năm 1858, khoảng cách về trang thiết bị giữa quân đội nhà Nguyễn và quân Pháp đã khá xa.