mở đầu "đường lối ngoại giao pháo hạm" của thực dân Pháp, báo hiệu trước những hành động xâm lược về sau này. Một vài tháng sau Thiệu Trị lâm bệnh nặng. Theo sử chép, con trai trưởng của ông là Nguyễn Phúc Hồng Bảo, một người ham chơi, mê cờ bạc, không chịu học hành. Vì vậy khi gọi các quan Trương Đăng Quế, Võ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương và Lâm Duy Hiệp vào trăng trối, vua Thiệu Trị để di chiếu truyền ngôi cho con thứ là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm.
Hồng Bảo được tin đem binh vào, nhưng bị quan Phạm Thế Lịch giữ lại. Một mình Hồng Bảo vào lạy lục vua cha Thiệu Trị, nhưng ông quay mặt đi không trả lời. Hồng Bảo bị Phạm Thế Lịch và Vũ Văn Giải đưa vào hậu cung và giữ ở đó. Vua Thiệu Trị băng ngày 27 tháng 9 năm Đinh Mùi (1847), hưởng thọ 41 tuổi.
Ông được an táng tại Xương Lăng, miếu hiệu là Hiến Tổ, thụy hiệu là Thiệu Thiên Long Vận Chí Thiện Thuần Hiếu Khoan Minh Duệ Đoán Văn Trị Vũ Công Thánh Triết Chương Hoàng Đế. Trong Đại Nam thực lục có đoạn chép lời vua Tự Đức đúc kết cuộc đời vua cha như sau : " Kính nghĩ Hoàng khảo Hiến tổ Chương hoàng đế ta, tư chất bẩm sinh là bậc thượng thánh, nối giữ cơ nghiệp thịnh trị, về công việc trị nước thì kính trời, noi theo pháp độ của tổ tiên, hiếu thảo với đấng thân, hoà mục với họ hàng, dùng người hiền tài, tìm lời nói thẳng, thương dân, trọng nghề gốc, sửa việc văn, rèn việc võ, ưa chuộng sự kiệm ước, nén bỏ sự xa xỉ, biết bao chính sự hay, sử sách không sao chép hết được. Cho nên lúc bấy giờ, chính sự bình hoà, giáo hoá thấm khắp, thời tiết hoà thuận, năm thường được mùa, số hộ khẩu ngày một tăng thêm, việc hình phạt ngày bớt đi nhiều, việc võ không dùng đến, nơi biên cảnh yên tĩnh. Trong khoảng 7 năm, ơn trạch thấm nhuần, các sĩ phu và dân chúng đều ca ngợi thái bình, đến ngày nay cũng vẫn như ngày xưa.
Đạo đức và công liệt của Hoàng khảo ta làm cho công đức của hai Thánh tổ tỏ rạng thêm". 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đoạn văn trên tuy là lời văn mô phạm thường thấy nhưng cũng phần nào nói lên những thành quả trong sự nghiệp trị vì ngắn ngủi của hoàng đế Thiệu Trị. Trong Đại Nam thực lục có chép lời vua nói với triều thần rằng “Phải nên xem xét lợi hại, kính giữ phép thường. Nếu muốn đặt lạ khoe cao, chực làm công việc phi thường vượt qua đời trước, sức không đủ mà gượng làm, mong cho được việc thì khó lắm”4.
Chính vì quan niệm đó mà trong thời gian trị vì, về nội trị hay ngoại giao, vua Thiệu Trị đều noi theo đường lối chính sách của vua cha là Minh Mệnh, vua Thiệu Trị cố gắng giữ gìn mọi định chế đã được gây dựng, kiến tạo từ triều trước, quốc gia tương đối ổn định và cường thịnh, nên vua chỉ tuân theo "thành pháp" - đúng như tiên hiệu của ông là "Thiệu Trị" (nối tiếp nền thịnh trị). Vua Thiệu Trị có khí tượng của một vị "Thái bình thiên tử", về chính trị thì gần như không có cải cách gì, ông chỉ khắc phục và hoàn thành một số vấn đề còn lại từ thời Minh Mệnh như việc đắp đê ở Bắc bộ, để khắc phục hậu quả của phương pháp "đào sông thay đê", và giải quyết vấn đề Chân Lạp. Hoặc cũng có thể do bản tính hiền hòa nên Thiệu Trị không mạnh dạn trong cải cách mà chỉ giữ nếp cũ từ thời vua cha. Dưới thời vua Thiệu Trị, đất Nam kì có nhiều giặc giã, dân Chân Lạp nổi dậy và quân Xiêm La sang đánh phá, nhà vua phải cho quân đánh dẹp đến năm Thiệu Trị thứ bảy (1847) mới yên.
Về cơ bản, có thể nói vua Thiệu Trị là tiêu biểu cho một vị Hoàng đế "thủ thành" (giữ cơ nghiệp đã sẵn có trọn vẹn). Tuy không có nhiều dấu ấn chính trị, nhưng dường như mọi sức mạnh của triều đại được vua Thiệu Trị thể hiện trong sự phát triển văn hóa nghệ thuật và kiến trúc. Nghệ thuật kiến trúc thời Nguyễn đạt đến đỉnh cao dưới thời Thiệu Trị. Thời kì này, vua Thiệu Trị cho xây dựng hàng loạt những công trình kiến trúc có quy mô như vườn Cơ Hạ, điện Khâm Văn, Thanh Hạ Thư Lâu (1844), điện Minh Thận (1845) ở phía đông điện Càn Thành, để làm chỗ phê duyệt sớ tấu.
Trong những công trình xây dựng thời Thiệu Trị phải kể đến cung Bảo Định – một quần thể kiến trúc độc đáo nằm ở phía nam vườn Thường Mậu; Cung có chính điện gọi là điện Long An; đằng sau điện làm thêm các Minh Trưng, phía trước các làm đài 4 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, bản dịch của Viện Sử Học, Nxb KHXH, Hà Nội. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trừng Phương, phía sau làm các hiên nhỏ gọi là hiên Đạo Tâm, phía tả các gọi là viện Chiêm ân, phía hữu gọi là viện Nhuận đức, đằng trước điện có đông vu, tây vu, phía nam điện gọi là cửa cung Bảo Định, phía bắc gọi là cửa Mỹ Thành., các tường, cửa viện vũ bên tả bên hữu đều đặt bằng chữ hay. Vua Thiệu Trị cũng là một vị vua trọng đạo Phật, vì vậy ngoài việc xây dựng những công trình cung điện thì nhà vua còn cho trùng tu và xây dựng nhiều ngôi chùa lớn, có thể kể đến như việc xây chùa Diệu Đế (1844) vốn là nơi tiềm để của vua, xây tháp Phước Duyên 7 tầng ở chùa Thiên Mụ, gọi là tháp Từ Nhân, đằng trước dựng đình Hương Nguyện. Về mặt sáng tác thơ văn thì có thể nói vua Thiệu Trị là một trong những vị vua có số lượng sáng tác nhiều nhất trong lịch sử nước ta nói chung và triều Nguyễn nói riêng.
Tuy rằng thời gian tại vị ngắn ngủi chỉ vẻn vẹn có 7 năm, nhưng vua Thiệu Trị để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ. Có lẽ bởi là một vị vua thời thái bình, thừa hưởng nền móng chính trị và văn hóa ổn định của đời trước, cộng thêm với tinh thần thi sĩ của mình. Vua Thiệu Trị không chỉ lấy việc sáng tác thơ văn làm thú vui mà còn phát huy giá trị văn chương dùng nó để tô điểm thêm cho thời thịnh thế và coi đó như một công cụ của sự giáo hóa. Vua Tự Đức trong "Xương Lăng Thánh Đức Thần Công bi" có nhắc đến những trước tác của vua Thiệu Trị một cách súc tích rằng : "(vua cha) khi rỗi việc để ý văn nghệ, nói ra làm khuôn mẫu mà bảo cho người sau.
Ngự chế ra hai tập văn, bốn tập thơ, lại có những tập Ngự Đề đồ hội, Sử luận, Hoàng huấn, Bắc tuần vũ công, Cổ kim thể cách, Tài thành phụ tướng, Lịch đại đế vương, không đầy sáu bảy năm, mà làm xong mười bốn bộ sách. Lại tập Chỉ Thiện đường thi văn hội, làm ra từ khi ở nơi tiềm để, có mười sáu quyển nữa". Thông qua khảo sát có thể thống kê lại một cách chi tiết hơn những trước tác của vua Thiệu Trị như sau : Về văn có hai tác phẩm là : Ngự chế lịch đại sử tổng luận và Ngự chế văn tập. Về thơ gồm có: - Ngự chế Tài Thành Phụ Tướng thi tập là tập thơ ngự chế dùng để làm quẻ bói cát hung nhằm giáo hóa phong tục, tập thơ gồm 200 bài thơ chia làm 2 quyển gọi là Tiên Thiên và Hậu Thiên.
17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Ngự chế Cổ Kim Thể Cách Thi Pháp gồm 157 bài thơ ngự chế với hơn 70 thể, mỗi bài thơ có thể đọc xuôi, đọc ngược. - Minh Lương Hỷ Khởi tập là tập hợp những bài thơ ngự chế và các bài ứng chế của các quan. - Ngự chế Vũ Công thi tập gồm 10 quyển với 148 bài thơ và 12 chương minh, nội dung liên quan đến phương lược bình định Xiêm La, Chân Lạp; và việc dẹp bình giặc dã các nơi. - Ngự đề đồ hội thi tập gồm 14 quyển và 2 quyển mục lục với tổng số hơn 200 bài thơ với các chủ đề vịnh cảnh, vịnh cổ tích và vịnh nhân vật.
- Hoàng huấn cửu thiên gồm có chín thiên do vua ngự chế phỏng theo cổ thể kinh Thi. - Ngự chế Bắc tuần thi tập gồm 173 bài thơ ngự chế được viết nhân chuyến ngự giá ra Hà Nội để thụ phong. - Ngự chế thi tập có 6 quyển với hơn 3000 bài gồm thơ của vua ngự chế và quần thần ứng chế. - Chỉ Thiện Đường thi văn hội tập gộp chung cả thơ và văn do vua Thiệu Trị viết khi còn tiềm để, gồm 16 quyển.
Ngoài những tác phẩm văn thơ kể trên thì còn một số tác phẩm khác thuộc về nửa văn chương nửa hành chính dưới thời vua Thiệu Trị như : Thiệu Trị văn quy tự vựng hội tập, Thiệu Trị chiếu dụ. Vấn đề văn bản Ngự đề đồ hội thi tập. Quá trình hình thành tác phẩm. Sự hình thành các tác phẩm thơ văn ngự để, ngự chế của vua Thiệu Trị không chỉ ở tài thơ của ông mà mang trong đó sự kế thừa, có mạch nguồn từ đời vua cha Minh Mệnh.
Vua Thiệu Trị chịu ảnh hưởng rất nhiều ở sự giáo dục của vua cha, như chúng ta biết vua Minh Mệnh sáng tác văn thơ không ít, dùng thơ để giáo huấn ca vịnh cũng nhiều, ngay cả việc thi ngâm cũng thường được nhắc nhở, như việc vua nói về đại nghĩa của việc làm thơ rằng "dẫu trong khi ngâm vịnh cũng có 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngụ ý làm chủ nước, yêu nuôi dân" không những vậy mà vua Minh Mệnh còn thường ban thơ cho các hoàng tử để tỏ rõ ý giáo huấn. Có lẽ từ những việc đó cũng đã tạo cho vua Thiệu Trị một mạch nguồn tư tưởng trong việc sáng tác. Sự kế thừa tư tưởng vua cha của vua Thiệu Trị cũng có thể phần nào thấy được khi ông cho khắc in tập thơ Thiên cơ dự triệu là một tập thơ ngự chế dùng để dự đoán cát hung của vua Minh Mệnh, đồng thời lại sáng tác tập Ngự chế Tài Thành Phụ Tướng thi tập, cũng là tập thơ bói cát hung để nối ngầm ý của vua cha. Nằm trong hệ thống thơ văn ngự chế của vua Thiệu Trị, tác phẩm Ngự đề đồ hội thi tập là một tập thơ đồ sộ và công phu, đồng thời cũng là sản phẩm chứa đựng sự kết hợp hài hòa giữa nghệ thuật ngôn từ và mỹ thuật.