Mở đầu cuộc xâm lược, thực dân Pháp cùng quân Tây Ban Nha nổ súng tấn công Đà Nẵng với ý định chiếm Đà Nẵng làm căn cứ, rồi tấn công ra Huế, nhanh chóng buộc triều đình nhà Nguyễn đầu hàng. Trước sức phòng thủ, bao vây, cô lập của quân dân ta, lại thêm bị tổn thất nặng nề, sau 5 tháng, thực dân Pháp vẫn không thực hiện được mục đích buộc triều đình Huế đầu hàng, kết thúc nhanh chiến tranh, Pháp phải rút đại bộ quân khỏi Đà Nẵng, mở mặt trận mới ở Gia Định. Ngày 16-2-1859, quân Pháp tấn công thành Gia Định. Quân đội triều đình tan rã nhanh chóng.
Tuy nhiên, Pháp không đủ sức giữ thành lại thường xuyên bị các đội dân binh chiến đấu của ta ngày đêm quấy rối nên Pháp phải dùng thuốc nổ phá thành, đốt trụi mọi kho tàng và rút quân xuống các tàu chiến. Kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh” bị thất bại, Pháp buộc phải chuyển sang kế hoạch xâm lược “chinh phục từng gói nhỏ”. Cuối tháng 12-1861, sau khi cùng với các nước phương Tây can thiệp vũ trang Trung Quốc, thực dân Pháp dồn quân vào mặt trận Gia Định, mở cuộc tiến công căn cứ Đại Đồn Chí Hòa và nhiều căn cứ khác của ta với âm mưu chiếm Gia Định và toàn Nam Kì lục tỉnh. Cuộc giao tranh diễn ra ác liệt.
Không trụ nổi trước hỏa lực của địch, Nguyễn Tri Phương phải hạ lệnh cho quân lính bỏ Đại đồn rút về phía sau cố thủ (25-2-1861). Sau khi chiếm xong Gia Định, quân Pháp đánh nống ra nhiều nơi: Gia Định, Định Tường, Biên Hòa và Vĩnh Long. Đứng vững trên những vùng đất ở ba tỉnh miền Đông Nam kì và đảo Côn Lôn, sau khi kí với triều đình Huế điều ước Nhâm Tuất (5-6-1862) và trước tình thế thuận lợi mới khi triều đình Huế chủ trương thương lượng, chuộc lại những vùng đất đã nhượng cùng với lệnh bãi binh, đàn áp khởi nghĩa, thực dân Pháp mở rộng đánh chiếm. Sáng 20-6-1867, Pháp cho quân dàn trận trước thành Vĩnh Long, đưa tối hậu thư đòi Phan Thanh Giản- đại 18 diện triều đình Huế nộp thành.
Phan Thanh Giản nộp thành Vĩnh Long cho Pháp, ra lệnh cho các quan cầm đầu 2 tình còn lại ở miền Tây là An Giang và Hà Tiên cũng phải nộp thành theo lệnh của Pháp (24-6-1867). Chiếm xong Nam kì lục tỉnh và đảo Côn Lôn, thực dân Pháp thực hiện âm mưu chiếm cả Bắc Kì và Trung Kì. Chớp lấy cơ hội triều đình Huế yêu cầu “giải quyết vụ Dupuis”, ngày 11-10-1873 Thống Đốc Nam kì đã phái Garnier đem quân ra Bắc kì, bề ngoài là “dàn xếp” công việc, nhưng bên trong là kiếm cớ can thiệp sâu vào bắc kì. Mờ sáng 20-11-1873, Pháp tấn công thành Hà Nội.
Trước sức mạnh tấn công của Pháp, thành Hà Nội thất thủ. Trong khi đó triều đình Huế không có hành động đối phó tích cực nào, mà vẫn tự hãm mình trong thế bị động thương thuyết. Thừa cơ hội đó, thực dân Pháp mở rộng đánh chiếm các tỉnh đồng bằng bắc bộ. Sau đó buộc triều đình Huế kí điều ước Giáp Tuất (15-3-1874), theo đó triêu đình chính thức thừa nhận chủ quyền của Pháp ở sáu tỉnh Nam kì và có nhiều điều kiện để tiếp tục xây dựng cơ sở thực hiện các bước xâm lược về sau.
Từ những năm 70 của thế kỉ XIX, nước Pháp chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Yêu cầu về thị trường, nguyên liệu, nhân công và lợi nhuận được đặt ra cấp thiết. Vì vậy, thực dân Pháp ráo riết âm mưu xâm lược toàn bộ Việt Nam. Ngày 3-4-1882, Pháp vu cáo triều đình Huế vi phạm Hiệp ước 1874, bất ngờ đổ bộ lên Hà Nội.
Ngày 25-4-1882, quân Pháp nổ súng tấn công thành Hà Nội. Sau khi chiếm xong thành, chúng kéo quân xâm chiếm các tỉnh đồng bằng Bắc bộ. Lợi dụng cơ hội triều Nguyễn vẫn ở thế bị động phòng thủ và chủ trương giải quyết tình hình bằng thương thuyết, Pháp càng đẩy mạnh âm mưu xâm lược toàn bộ Việt Nam. 19 Ngày 17-7-1883, vua Tự Đức mất, triều đình Huế rơi vào tình trạng chia rẽ, lục đục trong vấn đề tôn vương.
Chớp thời cơ, Pháp quyết định đánh thẳng vào Huế, buộc triều đình đầu hàng. Sau khi chiếm được cửa biển Thuận An – “cửa họng” của kinh thành Huế. Thực dân Pháp buộc triều đình Huế kí Hiệp ước Harmand, Việt Nam chính thức đặt dưới sự “bảo hộ” của Pháp. Đầu tháng 12-1883, sau khi nhận thêm viện binh, thực dân Pháp đẩy mạnh hành quân, mở rộng đánh chiếm nhiều nơi ở Bắc kì.
Quân Pháp hành quân đến đâu, quân Thanh rút lui đến đó, không hề chống lại. Pháp dùng áp lực buộc triều đình Mãn Thanh thừa nhận chủ quyền của Pháp ở Việt Nam và cam kết rút hết số quân đã điều sang từ 1882 theo yêu cầu của triều đình. Trên đà thắng thế, chính phủ Pháp ép triều Nguyễn kí điều ước mới 6- 6-1884. Điều ước Patenôtre về cơ bản dựa trên điều ước Harmand có sửa một số điều nhằm xoa dịu dư luận và mua chuộc thêm những phần tử đầu hàng.
Hiệp ước Harmand và Patenôtre đã xác lập quyền đô hộ lâu dài của Pháp ở Việt Nam. Yêu cầu khách quan của xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX Xem xét âm mưu xâm lược của Pháp và tình hình Việt Nam trước khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược (1858) có thể thấy rằng yêu cầu canh tân và đối phó với nguy cơ thực dân Pháp xâm lược đang đặt ra gay gắt. Không ít quan lại, trí thức, sĩ phu thức thời và các vua nhà Nguyễn cũng đã ý thức được hai yêu cầu có tính chất thời đại này. Đề tài canh tân đất nước đã nhiều lần được vua Tự Đức lấy làm đề thi trong các kì thi Đình (ví dụ kì thi Đình ở khoa Đinh Sửu năm 1878, vua Tự Đức đã hỏi “Hiện nay các nước phương Đông đều muốn bỏ tập tục cũ của mình mà bắt chước phương pháp mới của 20 người khác để tiến tới cõi giàu mạnh; xét kĩ việc đó, có đúng hay không”1).
Bởi tình hình kinh tế -chính trị - xã hội Việt Nam cho đến trước năm 1858 tuy đạt được những thành tựu nhất định (các vua nhà Nguyễn vẫn giữ vững được độc lập chủ quyền của đất nước) nhưng rõ ràng trước một kẻ thù ở một trình độ văn minh hơn hẳn lại là lần đầu tiên phải đương đầu thì với tiềm lực hiện có hẳn rất khó cho Việt Nam trong cuộc đọ sức không ngang lực này. Bên cạnh đó, chính sách “cấm đạo”, “đuổi giáo sĩ phương Tây” cùng với chính sách ngoại giao xa lánh, cự tuyệt với các nước phương Tây của các vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức chính là những bằng cớ nói lên rằng hơn ai hết, chính các vua nhà Nguyễn đã ý thức được dã tâm xâm lược nước ta của thực dân Pháp. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan mà chủ yếu là do tư tưởng bảo thủ, lạc hậu và thiếu quyết tâm thực hiện mà hai yêu cầu canh tân và chống nguy cơ xâm lược chưa được giải quyết hiệu quả. Việt Nam trước khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược (1858) vẫn là một nước phong kiến lạc hậu và đang có những biểu hiện khủng hoảng, suy yếu nghiêm trọng do những chính sách quản lý đất nước của các vua Nguyễn không phù hợp và có nhiều sai lầm.
Yêu cầu canh tân và chống giặc ngoại xâm càng trở nên bức thiết hơn khi Pháp chính thức nổ súng xâm lược (1858) và đặc biệt sau hiệp ước Nhâm Tuất 1862. Bởi: Hiệp ước Nhâm Tuất (1862) là kết quả không mong muốn cho giai đoạn đụng độ trực tiếp đầu tiên giữa Việt Nam và thực dân Pháp. Mặc dù triều đình nhà Nguyễn và nhân dân ta đã cố gắng trong việc tìm đối sách chống Pháp, nhưng do chủ trương không phù hợp của triều 1 Hồ Song – Chương Thâu, Sự chuyển biến tư tưởng phong trào quốc gia dân tộc Việt Nam đầu thế kỉ XX, tạp chí nghiên cứu Lịch sử, số 291, 1997, tr. 21 đình- thiên về phòng thủ đã khiến cho không chỉ 6 tỉnh Nam kì nước ta mất hẳn vào tay Pháp mà còn ảnh hưởng tới các phần còn lại của đất nước.
Nền kinh tế Việt Nam vốn đã nghèo nàn, lạc hậu nay càng trở nên kiệt quệ. Kinh đô Huế lâm vào tình trạng thiếu lương nhu vì thóc gạo Nam kì bị phong tỏa bởi quân Pháp. Không những thế, triều đình phải chi trả một khoản bồi thường chiến phí 20 triệu quan (khoảng 280 vạn lạng bạc) trong thời hạn 10 năm. Như vậy, mỗi năm triều đình sẽ phải trả 280.000 lạng bạc trong khi chỉ thu về được 150.000 lạng bạc tiền thuế.
Mất Nam kì là mất một vựa lúa đồ sộ đã bị mất hoàn toàn vào tay Pháp. Để có đủ tiền bồi thường chiến phí và phục vụ những nhu cầu cho bộ máy nhà nước, nhà Nguyễn phải đẩy mạnh chính sách vơ vét, bóc lột làm cho mâu thuẫn giữa nhà nước và nhân dân sâu sắc. Dọc theo biên giới 2 nước Việt – Lào, đồng bào Mường ngoài Bắc và đồng bào Thượng ở miền Nam trung kì nổi dậy. Lợi dụng tình thế đó, bọn thổ phỉ, hải phỉ (từ Trung Quốc tràn sang) nổi lên cướp phá nhiều nơi.
Để đối phó, nhà Nguyễn đã đàn áp đẫm máu các cuộc khởi nghĩa nông dân, đồng thời cầu cứu nhà Thanh phái quân sang đánh dẹp các toán phỉ. Những khó khăn về kinh tế ngày càng gay gắt, cùng với sự rối loạn về chính trị - xã hội và nguy cơ luôn bị đe dọa bởi âm mưu mở rộng xâm chiếm ra Bắc kì và Trung kì của thực dân Pháp càng đặt ra cho triều đình Huế yêu cầu bức thiết phải canh tân đất nước để có thêm tiềm lực, khả năng đương đầu với thực dân Pháp. Thực tế lịch sử Việt Nam giai đoạn này cũng đã xuất hiện một loạt các bản điều trần nhằm canh tân đất nước của các tầng lớp nhân dân, chủ yếu là của quan lại và trí thức như: Nguyễn Hiệp, Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ, Đinh Văn Điền, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch… 22 Như vậy, xem xét yêu cầu canh tân đất nước và chống thực dân Pháp xâm lược ở nước ta trước và sau khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược (1858) cùng với sự xuất hiện đồng loạt của các đề nghị canh tân đất nước từ sau năm 1862 có thể rút ra một số nhận xét sau: Thứ nhất: yêu cầu canh tân và chống xâm lược xuất hiện ở nước ta vào giữa thế kỉ XIX là yêu cầu mang tính thời đại. Hai yêu cầu đó có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Chỉ có thể chống Pháp thành khi tiềm lực của đất nước đủ mạnh.