Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng đào tạo tiếng Anh tại các trung tâm tiếng anh. Chương 2: Thực trạng chất lượng đào tạo tiếng Anh tại Trung tâm tiếng anh Talk Class. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo tiếng Anh tại Trung tâm tiếng anh Talk Class đến năm 2030. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TIẾNG ANH 1.
Khái niệm về đào tạo và chất lượng đào tạo 1. Khái niệm về đào tạo Đào tạo, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, là “một quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống, nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và có khả năng nhận một sự phân công nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội”. Như vậy, đào tạo có thể được hiểu là quá trình truyền đạt kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm từ người này sang người khác nhằm mục đích nâng cao năng lực, hiệu quả làm việc hoặc để đạt được một mục tiêu cụ thể. Khái niệm về chất lượng “ Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan “ – Trích trong Tổ chức quốc tế về Tiêu chuẩn hoá ISO, trong dự thảo DIS 9000:2000.
Các khía cạnh của chất lượng có thể kể đến như: Tính phù hợp, độ tin cậy, khả năng sử dụng, hiệu suất, tính thẩm mỹ, độ an toàn,… 1. Khái niệm về chất lượng đào tạo “Chất lượng của chương trình đào tạo là sự đáp ứng Mục tiêu chung, Mục tiêu cụ thể và chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo ở trình độ cụ thể, đáp ứng các yêu cầu theo quy định của Luật giáo dục đại học và của Khung trình độ Quốc gia, phù hợp với nhu cầu sử dụng nhân lực của địa phương, của ngành và xã hội. - Trích khoản 4 Điều 2 Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học ban hành kèm theo Thông tư 04/2016/TT-BGDĐT. Các tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo tiếng anh Parasuraman và các cộng sự (1985) đã xây dựng và phát triển mô hình SERVQUAL.
Mô hình là sự so sánh giữa các giá trị kỳ vọng và các giá trị khách hàng cảm nhận được. Theo mô hình SERVQUAL, chất lượng dịch vụ được xác định như sau : 6 Chất lượng dịch vụ = Mức độ cảm nhận – Giá trị kỳ vọng Tuy nhiên, việc sử dụng mô hình chất lượng và khoảng cách làm cơ sở cho việc đánh giá chất lượng dịch vụ cũng có nhiều tranh luận (Carmen, 1990 ; Babakus và Boller, 1992 ; Cronin và Taylor, 1992). Cronin và Taylor (1992) với mô hình SERVPERF cho rằng mức độ cảm nhận của khách hàng đối với việc thực hiện dịch vụ của doanh nghiệp phản ánh tốt nhất chất lượng của dịch vụ. Theo mô hình SERVPERF thì: Chất lượng dịch vụ = Mức độ cảm nhận Kết quả này được sự đồng tình của các tác giả khác như Lee và cộng sự (2000), Brady và cộng sự (2002).
Mô hình SERVPERF được phát triển dựa trên nền tảng của mô hình SERVQUAL cũng với năm nhân tố của chất lượng dịch vụ: độ tin cậy, sự đảm bảo, phương tiện hữu hình, tính đáp ứng và sự đồng cảm, nhưng đo lường chất lượng dịch vụ trên cơ sở đánh giá chất lượng dịch vụ thực hiện mà không phải là khoảng cách giữa chất lượng kỳ vọng và chất lượng cảm nhận. Dù mô hình SERVPERF dựa trên nền tảng của mô hình SERVQUAL của Parasuraman và cộng sự (1988) nhưng việc lựa chọn SERVPERF vì một số lý do sau: - Mô hình SERVPERF cho kết quả tốt hơn mô hình SERVQUAL và bản câu hỏi theo mô hình SERVPERF ngắn gọn hơn so với SERVQUAL, không gây nhàm chán và mất thời gian cho người tra lời. - Đo lường kỳ vọng của khách hàng là công việc rất khó khăn. - Sử dụng thang đo SERVQUAL có thể ảnh hưởng tới chất lượng dữ liệu thu thập, dẫn đến giảm độ tin cậy và tính không ổn định của các biến quan sát.
- Phần mong đợi của khách hàng trong mô hình SERVQUAL không bổ sung thêm thông tin gì từ phần cảm nhận của khách hàng. Trong nghiên cứu này tôi chọn mô hình SERVPERF để làm cơ sở thực hiện nghiên cứu của mình. Độ tin cậy Độ tin cậy thể hiện khả năng thực hiện một dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn Điều này đòi hỏi sự nhất quán trong việc thực hiện dịch vụ và tôn trọng các cam kết cũng như giữ lời hứa với khách hàng. Trong quá trình làm việc tại Talk Class, tôi nhận ra mức độ tin cậy của khách hàng khi tới trung tâm là điều quan trọng nhất và tất cả mọi người cần phải chú ý thực hiện các dịch vụ 1 cách chính xác nhất.
Khi học viên tới trung tâm sẽ đưa ra 1 số câu hỏi như: lịch khai giảng có lùi hay không ?, Có cam kết rằng sĩ số 1 lớp tối đa 15 học viên hay không ?, Bài kiểm tra đánh giá đầu ra của học viên như thế nào ?,… - Khi trung tâm hứa với học viên làm điều gì đó thì họ sẽ giữ đúng lời hứa và thực hiện điều đó đúng hạn. - Khi học viên gặp khó khăn trong việc học tập, trung tâm chứng minh rằng mình rất quan tâm tới việc đó và mong muốn được giúp đỡ khách hàng. - Trung tâm cố gắng trong quá trình làm việc không để xảy ra 1 lỗi nhỏ nào. - Về việc kiểm tra đánh giá chất lượng đào tạo đối với học viên trung tâm đảm bảo rằng sẽ chính xác và khách quan.
Sự đảm bảo Đây là khả năng của trung tâm đáp ứng lại được các yêu cầu của khách hàng: Ngày nay, chất lượng dịch vụ tốt luôn cần có sự đảm bảo do khách hàng dù có tin tưởng đến đâu thì cũng cần có sự đảm bảo từ phía nhà cung cấp dịch vụ. Khi đã có được sự tin tưởng từ phía khách hàng qua mỗi lần cung cấp dịch vụi, chất lượng dịch vụ của công ty cũng sẽ được khách hàng đánh giá cao hơn theo thời gian. - Khi khách hàng yêu cầu trung tâm điều gì, trung tâm sẵn sàng có thể đáp ứng được. - Khi có yêu cầu từ phía khách hàng nhân viên trung tâm sẵn sàng đáp ứng được với yêu cầu đó.
Tính hữu hình Tính hữu hình chính là hình ảnh bên ngoài của trung tâm của các cơ sở vật chất, trang thiết bị giảng dạy, máy móc, tác phong làm việc của đội ngũ giáo viên, nhân viên, tài liệu, học. Nói một cách tổng quát, tất cả những gì mà khách hàng nhìn thấy trực tiếp được bằng mắt và các giác quan thì đều có thể tác động đến yếu tố này: Giá cả phải đi đôi với giá trị, khi khách hàng bỏ ra 1 số tiền tương đối để đầu tư cho việc học tập, họ cũng rất mong muốn nơi mình học tập có được sạch đẹp, khang trang, làm họ hứng thú khi tới buổi học. Là trung tâm tiếng anh giao tiếp cho người đi 8 làm và người cao tuổi vì thế Talk Class rất chú trọng vào hình ảnh của mình cả ở trên các trang MXH và thực tế khi tiếp xúc với khách hàng. - Trung tâm có trang thiết bị rất hiện đại.
- Trung tâm có cơ sở vật chất khang trang và bắt mắt. - Nhân viên, giáo viên trung tâm ăn mặc trang nhã, lịch sự. - Giáo trình và các tài liệu liên quan tới việc giảng dạy được thiết kế đẹp mắt. Sự đồng cảm Sự đồng cảm là sự quan tâm chăm sóc khách hàng một cách ân cần chu đáo, thấu hiểu và quan tâm một cách đặc biệt với khách hàng.
Đặt mình vào vị trí của khách hàng để hiểu rõ vấn đề của họ hơn. Đặc biệt là với những khách hàng là người cao tuổi, họ rất cần sự quan tâm, ân cần, giúp đỡ tận tình từ các bạn Lễ tân và Tư vấn viên. Họ đã có tuổi nên công nghệ không được tiếp xúc nhiều, sự tiếp thu cũng giảm dần, nên vai trò của giáo viên cũng rất là quan trọng khi là người trực tiếp giảng dạy, truyền tải kiến thức đến họ. - Lợi ích của khách hàng được trung tâm đặt lên hàng đầu.
- Quan tâm và chú ý đặc biệt tới khách hàng là điều nhân viên ở trung tâm phải làm được. - Nhu cầu của khách hàng khi tới trung tâm được nhân viên hiểu rõ. - Trung tâm lúc nào cũng có người làm việc tại cơ sở và cả làm việc Online tạo sự thuận tiện cho khách hàng. Sự đáp ứng Đây là tiêu chí đo lường mức độ sẵn sàng hỗ trợ, đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất.
Yếu tố này có thể được thể hiện qua tốc độ nhân viên xử lý yêu cầu, khúc mắc, khiếu nại. Khách hàng cần có cảm giác yên tâm, được đảm bảo khi trải nghiệm dịch vụ, sản phẩm của doanh nghiệp. - Khi thực hiện nhiệm vụ nhân viên trung tâm sẽ thông báo tới khách hàng. - Khi thực hiện dịch vụ yêu cầu của khách hàng nhân viên trung tâm sẽ nhanh chóng hoàn thành yêu cầu đó.
- Khi khách hàng cần trợ giúp nhân viên trung tâm luôn luôn sẵn sàng làm điều đó. Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo 1. Về yếu tố học thuật a. Chương trình và tài liệu chuyên môn Khái niệm chương trình đào tạo theo Wentling (1993): “là một bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo (khóa đào tạo) cho biết toàn bộ nội dung cần đào tạo, chỉ rõ những gì có thể trông đợi ở người học sau khóa đào tạo, phác thảo ra quy trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo, các phương pháp đào tạo và các thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập và tất cả những cái đó được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ.” Theo Tyler (1949) cho rằng: “ cấu trúc của chương trình đào tạo cơ bản gồm 4 phần: Mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, phương pháp hay quy trình đào tạo, cách đánh giá kết quả đào tạo.” Chương trình đào tạo phải được thiết kế một cách thông minh, phù hợp, có sự kết hợp giữa nội dung chuyên môn và cả kỹ năng.
Nhằm hỗ trợ người học, tạo cho người học cảm giác thích thú, tạo thói quen học tập.