CHƯƠNG 1: TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1. Một số khái niệm về HIV/AIDS HIV là viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Human Immunodeficiency Virus" nghĩa là virus gây suy giảm hệ miễn dịch ở người, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh [17]. HIV CÓ nhiều trong máu và các dịch cơ thể của người nhiễm như tinh dịch, dịch âm đạo và sữa.
HIV không có hoặc có rất ít trong nước bọt, nước mắt, mồ hôi, nước tiểu, không đủ làm lây nhiễm HIV [18], HIV dần hủy hoại hệ thống miễn dịch bằng cách làm suy yếu và tiêu diệt các tế bào mang thụ quan CD4. Sự nhân lên của virus có thể giết chết tế bào, sự này chồi của nhiều virus có thể phá vỡ tế bào. Kết quả là số lượng tế bào LymphoT4 giảm, hệ thống miễn dịch suy giảm [3], AIDS là viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Acquired Immuno Deficiency Syndrome” nghĩa là Hội chứng gây suy giảm miễn dịch mắc phải. AIDS là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV với những biểu hiện lâm sàng như sụt cân nhanh, ho kéo dài (ho trên 1 tháng), sốt kéo dài (sốt trên 1 tháng), ỉa chảy kéo dài, các bệnh lở loét trên da,.[18] Các giai đoạn lâm sàng của người nhiễm HIV/AIDS [4] Nhiêm HIV ở người lớn được phân thành 4 giai đoạn lâm sàng, tùy thuộc vào các triệu chứng bệnh liên quan đến HIV ở người nhiễm.
Lâm sàng giai đoạn I: - Không có triệu chứng. - Bệnh lý hạch lympho toàn thân dai dẳng. - Hoạt động mức độ 1: Không có triệu chứng, hoạt động bình thường. Lâm sàng giai đoạn II: 5 Ị Sụt cân dưới 10% trọng lượng cơ thể.
Biều hiện nhẹ tại da và niêm mạc (viêm tiết bã nhờn, nấm họng, loét miệng tái diễn). Zona trong vòng 5 năm trở lại đây. Nhiễm trùng đường hô hấp trên tái phát. Và/ hoặc hoạt động mức độ 2: Có biểu hiện triệu chứng nhưng vẫn hoạt động bình thường.
Lâm sàng giai đoạn III: Sút trên 10% trọng lượng cơ thể. Tiêu chảy mãn tính không rõ nguyên nhân. Sốt kéo dài không rõ nguyên nhân trên 1 tháng. Nhiễm nấm Candida ở miệng.
Bạch sản dạng lông ở miệng. Lao phổi trong 1 năm gần đây. Nhiễm vi khuẩn nặng (viêm phổi, viêm cơ mủ). Và/ hoặc Hoạt động mức độ 3: Nằm liệt giường dưới 50% số ngày trong tháng trước đỏ.
Lâm sàng giai đoạn IV: Hội chứng suy mòn do HIV (sụt > 10% trọng lượng cơ thể, cộng với tiêu chảy mãn tính không rõ căn nguyên > 1 tháng, hoặc mệt mỏi và sốt kéo dài không rõ căn nguyên > 1 tháng). Viêm phổi do Toxoplasma ở não. Bệnh do Cryptosporidia có tiêu chảy > 1 tháng. Nhiễm nấm Cryptococcus ngoài phổi.
Bệnh do Cytomegalovirus ở cơ quan khác ngoài gan, lách hoặc hạch. Nhiễm virút Herpes simplex da và niêm mạc > 1 tháng hoặc ở nội tạng. Viêm não chất trắng đa ổ tiến triển. 6 Bệnh nấm lưu hành ở địa phương có biểu hiện lan toả toàn thân (như nấm Histoplasma, Penicillium).
Bệnh nấm Candida thực quản, khí quản, phế quản hoặc phổi. Nhiễm các Mycobacteria không phải lao lan toả toàn thân. Lao ngoài phổi. Điểu trị ARV[4] Mục tiêu của điều trị ARV: ức chế sự nhân lên của và kìm hãm lượng virus trong máu ở mức thấp nhất Phục hồi chức năng miễn dịch, giảm nguy cơ mắc các bệnh NTCH Cải thiện chất lượng sống và tăng cường khả năng sổng sót của người bệnh Nguyên tắc điều trị ARV: Điều trị ARV là một phần trong tổng thể các dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ về y tế, tầm lý và xã hội cho người nhiễm HIV/AIDS Điều trị ARV chủ yếu là điều trị ngoại trú và được chỉ định khi người bệnh có đủ tiêu chuẩn lâm sàng, và/ hoặc xét nghiệm chứng tỏ đã sẵn sàng điều trị Bất cứ phác đồ điều trị nào cũng phải có ít nhất 3 loại thuốc.
Điều trị ARV là điều trị suốt đời; người bệnh phải tuân thủ điều trị tuyệt đối để đảm bảo hiệu quả và tránh kháng thuốc 1. Khái niệm vể chăm sóc, hô trợ và điểu trị cho người nhiêm HIV/AỈDS Tổ chức sức khỏe gia đình thế giới (FHI) Chương trình phòng chống AIDS Liên hợp quốc (UNAIDS) định nghĩa chăm sóc, hỗ trợ và điều trị là 3 cấu phần trong chăm sóc toàn diện cho người nhiễm HIV/AIDS. Trong đó: Chăm sóc cho người nhiễm HIV/AIDS-. Người nhiễm HIV cần được duy trì sức khỏe tốt đề sẵn sàng thực hiện điều trị ARV, vì vậy cần được cung cấp các dịch vụ dự phòng.
Khi bắt đầu thực hiện điều trị ARV, người người nhiễm HIV/AIDS, người nhiễm HIV/AIDS cần tiếp cận được các dịch vụ chăm sóc y tế để sống khỏe mạnh và giảm thiểu các ảnh hưởng. Chăm sóc cho người nhiễm bao gồm: 7 Dự phòng NTCH bằng Cotrimoxazole Điều trị các bệnh NTCH Dự phòng, phát hiện sớm và điều trị lao Xây dựng khẩu phần dinh dưỡng Chăm sóc giảm nhẹ Tiêm chủng cho trẻ nhiễm HIV/AIDS [24] Điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS'. Điều trị ARV là phương pháp hiệu quả nhất đê kéo dài và nâng cao chất lượng cuộc sống của người nhiễm HIV/AIDS. Người nhiễm H1V/AIDS cần được xét nghiệm để biết được tình trạng sức khỏe của mình và được điều trị ARV khi đủ các điều kiện (căn cứ theo nồng độ CD4<=350 hoặc trong giai đoạn lâm sàng 3, 4) [24], Hỗ trợ cho người nhiễm HIV/AIDS: Nguời nhiễm HIV/AIDS có nhu cầu nhận được các hồ trợ ngoài chăm sóc y tế.
Những hỗ trợ này ảnh hưởng tới việc tuân thủ điều trị, sức khỏe và đời sống của họ. Các hồ trợ bao gồm: Hỗ trợ tâm lý Hỗ trợ các hoạt động tạo thu nhập Hỗ trợ tìm kiếm việc làm Định hướng tương lai Chăm sóc trẻ em Hỗ trợ pháp lý [24] 1. Nhu cầu về chăm sóc, hỗ trợ và điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS Người nhiễm HIV/AIDS đều có nhu cầu về chăm sóc sức khỏe. Đó là những nhu cầu người nhiễm HIV/AIDS mong muốn được sống dễ chịu hơn, hòa nhập với cộng đồng về thể chất, tinh thần, dự phòng và được điều trị, chăm sóc về mặt y tế,.
và các nhu cầu ve dịch. Nhu cầu về chăm sóc, hỗ trợ và điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS mà nghiên cứu đề cập tới là những tiêu chuẩn chung về chăm sóc, hỗ trợ và điều trị mà 8 bất kì người nhiễm HIV/AỈDS nào cũng cần dược cung cấp từ phía dịch vụ y té (dựa vào các văn bản qui định và các nghiên cứu đã có). Các nhu cầu bao gồm: Nhu cầu về chăm sóc: dự phòng Cotrimoxazole; điều trị các bệnh NTCH; dự phòng, phát hiện sớm và điều trị lao; xây dựng khẩu phần dinh dưỡng; chăm sóc giảm nhẹ; tiêm chủng cho trẻ nhiễm HIV/AIDS. Nhu cầu về hồ trợ: hồ trợ tâm lý, hỗ trợ các hoạt động tạo thu nhập, hỗ trợ tìm kiếm việc làm; định hướng tương lai; chăm sóc trẻ em; hỗ trợ pháp lý.
Nhu cầu về điều trị: điều trị ARV cho bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS đủ tiêu chuẩn điều trị (căn cứ theo nồng độ CD4<=350 hoặc trong giai đoạn lâm sàng 3, 4); thực hiện các xét nghiệm trong quá trình điều trị. Chăm sóc giảm nhẹ cho người nhiễm HIV/AIDS [14] Theo Bộ y tế Việt Nam: “Chăm sóc giảm nhẹ cho bệnh nhân ung thư và AIDS là sự kết hợp nhiều bệnh pháp để làm giảm sự đau khổ và cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh thông qua sự phòng ngừa, phát hiện sớm và điều trị đau và những vấn đề tầm lý, thực thể khác, và cung cấp sự tư vấn và hỗ trợ nhằm giải quyết những vấn đề xã hồi và tâm linh mà bệnh nhân và gia đình phải gánh chịu” Chăm sóc giảm nhẹ cho bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS tại PKNT bao gồm: - Kê đơn thuốc giảm đau và những thuốc cần thiết khác - Thỉnh thoảng khám nhũng bệnh nhân có thể đi lại được và đến được phòng khám - Đào tạo và hồ trợ tâm lý cho gia đình 2. Tình hình HIV/AIDS trên thế giói và Việt Nam 2. Trên thế giới Kể từ năm 1981 khi ca bệnh AIDS đầu tiên được phát hiện tại Mỹ, đến nay, HIV/AIDS đã trở thành đại dịch trên phạm vi toàn thế giới [24], Theo Tổ chức Y tế 9 thế giới (WHO), kể từ khi bát đầu dịch đến cuối năm 2012, gần 75 triệu người đã nhiễm virus HIV và khoảng 36 triệu người tử vong do HIV/AIDS [27].
Theo ước tính cùa Chương trình phòng chống AIDS Liên hợp quốc (UNAIDS), trong năm 2012, trên toàn cầu có 35,3 triệu người sống chung với HIV (32,2 - 38,8 triệu). Ngoài ra, số ca nhiễm mới HIV/AIDS có xu hướng giảm, cụ thể, năm 2012 chỉ còn 2,3 triệu người mắc mới (1,9 - 2,7 triệu), giảm 33% so với năm 2001. Trong đó, số ca nhiễm mới ở người trưởng thành và thanh thiếu niên giảm 50% hoặc hơn từ năm 2001 đến năm 2012. Đồng thời, số ca tử vong do AIDS giảm từ 2,3 triệu người năm 2005 (2,1 - 2,6 triệu) xuống còn 1,6 triệu người (1,4 - 1,9 triệu) trong thời điểm này [26].
Bên cạnh đó, tỷ lệ nhiễm HIV và tử vong do AIDS không giống nhau tại các khi vực. Khu vực Châu Phi cận Saharan vẫn còn là nơi bị ảnh hưởng nặng nề nhất với gần 1 trên 20 người trưởng thành sống chung với HIV và số trường hợp mắc HIV, chỉ riêng trong năm 2012, lên tới 25 triệu người (23,5 - 26,6 triệu), chiếm gần 71% số người nhiễm HIV trên thế giới [25], [27]. Đứng thứ hai là khu vực phía Nam và Đông Nam Á, tuy con sổ chưa bằng 1/6 của Châu Phi, nhưng 3,9 triệu người khu vực này cũng đang hàng ngày phải sống chung với HIV/AIDS [25]. Đây là con số không hề nhỏ với khu vực có nền kinh tế đang lên và gặp nhiều khí khăn về công tác y tế.
Tại Việt Nam Theo báo cáo của Bộ Y tế về “Ket quả công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2013 và định hướng kế hoạch năm 2014”, tính đến hết 30/11/2013, số trường hợp báo cáo hiện nhiễm HIV là 216.254 trường hợp, số bệnh nhân AIDS là 66.977 trường hợp tử vong do AIDS. Tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trên toàn quốc là 248/100.000 dân, thấp hơn so với mức trung bình cùa khu vực Đông Nam Á. Ba tỉnh có tỷ lệ hiện nhiễm cao nhất là Điện Biên (1029/100.000 dân); Thành phố Hồ Chí Minh (682/100.000 dân) và Thái Nguyên (632/100. 10 Tính đến năm 2013, tình hình dịch HIV/AIDS tại Việt Nam có nhiều sự thay đổi.
Theo nhóm tuổi, tỷ lệ người nhiễm HIV ở nhóm 30 - 39 tuổi có xu hướng tăng, cao nhất với 45,1%. Theo đường lây truyền, lây truyền qua đường tình dục với tỷ lệ 45% trong năm 2013 đã trở thành nguyên nhân hàng đầu lây nhiễm HIV tại Việt Nam.