CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO QUẢN LÝ VỐN VIỆN TRỢ KHÔNG HOÀN LẠI TẠI CỤC PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS, BỘ Y TẾ 1. Tổng quan chung về vốn viện trợ không hoàn lại 1. Khái niệm và đặc điểm của vốn viện trợ không hoàn lại 1. Vốn viện trợ Theo Nghị định số 114/2021/NĐ-CP ngày 16/12/2021 của Chính phủ: Vốn viện trợ, vốn vay ưu đãi là nguồn vốn của nhà tài trợ nước ngoài cung cấp cho Nhà nước hoặc Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để hỗ trợ phát triển, bảo đảm phúc lợi và an sinh xã hội, bao gồm: a) Vốn viện trợ không hoàn lại là khoản vốn viện trợ không phải hoàn trả lại cho nhà tài trợ nước ngoài, được cung cấp theo hình thức dự án độc lập hoặc kết hợp với các dự án đầu tư sử dụng vốn vay viện trợ, vay ưu đãi nước ngoài; b) Vốn vay viện trợ là khoản vay nước ngoài có thành tố ưu đãi đạt ít nhất 35% đối với khoản vay có điều kiện ràng buộc liên quan đến mua sắm hàng hóa và dịch vụ theo quy định của nhà tài trợ nước ngoài hoặc đạt ít nhất 25% đối với khoản vay không có điều kiện ràng buộc.
Phương pháp tính thành tố ưu đãi nêu tại Phụ lục I kèm theo Nghị định này [2]; Theo Nghị định số 114/2021/NĐ-CP ngày 16/12/2021 của Chính phủ về quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức, “Hỗ trợ phát triển chính thức” được định nghĩa là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với các nhà tài trợ là Chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ [2]. Như vậy, dưới các góc độ khác nhau, vốn viện trợ có thể được hiểu khác nhau, nhưng có thể định nghĩa chung nhất là: Hỗ trợ phát triển chính thức là hình thức hợp tác phát triển giữa Chính phủ nước nhận tài trợ và các đối tác tài 5 trợ ở nước ngoài. Các đối tác tài trợ thường bao gồm các chính phủ, các tổ chức quốc tế như UNDP, WB, IMF. Nguồn vốn viện trợ là sự hỗ trợ từ các quốc gia phát triển cho các quốc gia đang phát triển nhằm giúp các nước này phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Nguồn vốn viện trợ thường bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, các khoản vay ưu đãi với lãi suất thấp và thời hạn thanh toán dài. Tuy nhiên, hiện nay, đối với một số nước có mức thu nhập trung bình, nguồn vốn viện trợ có thể không chỉ là các khoản vay với lãi suất thấp mà còn có thể là theo lãi suất thị trường. Vốn viện trợ không hoàn lại Vốn viện trợ không hoàn lại là loại vốn mà nước nhận không phải hoàn trả và được sử dụng cho các dự án đã được các bên thỏa thuận từ trước. Vì vậy, khoản viện trợ không hoàn lại có thể được xem như một nguồn thu của ngân sách nhà nước và được sử dụng cho các mục đích phát triển kinh tế - xã hội.
Thực tế, nguồn vốn này thường được ưu tiên cho các dự án có tính xã hội cao như y tế và giáo dục. nhằm nâng cao chất lượng sống của người dân [2]. Vốn viện trợ không hoàn lại được xem như một nguồn thu của ngân sách nhà nước, và các dự án sẽ được cấp phát từ nguồn này. Ngoài nguồn viện trợ không hoàn lại, các dự án thường cần có vốn đối ứng từ phía nước tiếp nhận, bao gồm đóng góp bằng hiện vật hoặc tiền tệ để chuẩn bị và thực hiện chương trình, dự án.
Đóng góp này có thể là tiền được cấp từ ngân sách, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất hoặc nguyên vật liệu. Nguồn vốn viện trợ không hoàn lại trong các dự án thường đi kèm với các yêu cầu, quy định và cơ sở pháp lý về quản lý và thực hiện từ phía nhà tài trợ. Vốn viện trợ không hoàn lại có một số đặc điểm sau: - Viện trợ không hoàn lại có tính chất ưu đãi Viện trợ không hoàn lại là nguồn vốn có điều kiện mà nước nhận không cần trả lại, còn được biết đến với tên gọi là nguồn vốn không hoàn lại. [2] - Viện trợ không hoàn lại có tính chất ràng buộc 6 Nguồn vốn viện trợ này thường kèm theo yếu tố ràng buộc.
Các nước viện trợ thường áp đặt các điều kiện đối với các nước nhận viện trợ. Ngoài mục đích hỗ trợ, viện trợ từ các nước phát triển cũng có thể được xem như là một công cụ để đạt được lợi ích kinh tế và chính trị cho nước tài trợ. Việc các nước nhận viện trợ cần xem xét kỹ các điều kiện được đưa ra bởi các nước tài trợ, để không mất đi tính tự chủ trong tương lai. Quan trọng là các bên phải tuân thủ nguyên tắc tôn trọng lãnh thổ, hợp tác bình đẳng và tránh can thiệp sâu vào công việc bên trong của nhau.
- Viện trợ không hoàn lại gắn với mục đích và hiệu quả sử dụng Từ khi bắt đầu tồn tại, nguồn vốn viện trợ không hoàn lại đã có cùng lúc hai mục tiêu: thúc đẩy tăng trưởng kéo dài và giảm nghèo đói ở các nước đang và kém phát triển; đồng thời, tạo ra lợi ích chiến lược về mặt kinh tế và chính trị cho các quốc gia tài trợ. Mặc dù các mục tiêu này có thể gây ra mâu thuẫn, nhưng không nhất thiết phải xung đột và cần được thể hiện một cách cân đối. Viện trợ đã giúp nhiều quốc gia thoát khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội và đạt được sự phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên, viện trợ cũng có thể thất bại nếu không được sử dụng một cách hiệu quả.
Việc sử dụng viện trợ cần được đầu tư và quản lý cẩn thận, không thể lãng phí nguồn lực này dù đây là nguồn vốn có tính ưu đãi cao. Quản lý hiệu quả nguồn vốn viện trợ không hoàn lại là đòi hỏi rất quan trọng nhằm phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Phân loại vốn viện trợ không hoàn lại 1. Theo phương thức viện trợ Viện trợ không hoàn lại bao gồm viện trợ chung và hỗ trợ kỹ thuật.
Viện trợ chung thường được thực hiện bởi các nhà tài trợ thông qua việc cung cấp trang thiết bị và xây dựng các công trình theo từng chương trình, dự án cụ thể. Hình thức này được ứng dụng khi những nhà tài trợ muốn tăng cường năng lực tài chính cho các nước nhận, giúp họ xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội [3]. 7 Viện trợ kỹ thuật không hoàn lại bao gồm nhiều hoạt động khác nhau như hỗ trợ lập các nghiên cứu phát triển, quy hoạch tổng thể, nghiên cứu khả thi, lập thiết kế chi tiết, khảo sát và hợp tác kỹ thuật theo từng loại dự án. Ngoài ra, viện trợ cũng đào tạo cán bộ, cung cấp chuyên gia tư vấn và cử tình nguyện viên sang giúp đỡ.
Điều này giúp nước tiếp nhận không chỉ nhận được nguồn vốn hỗ trợ kỹ thuật mà còn được học hỏi về khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại và phương thức quản lý tiên tiến. Viện trợ kỹ thuật là hình thức hỗ trợ mà quốc gia hay tổ chức cung cấp kiến thức, hướng dẫn và hỗ trợ trong việc lập kế hoạch, tư vấn, nghiên cứu và thực hiện các hoạt động kỹ thuật như thăm dò thực tế, nghiên cứu khả thi. Ngân sách của dự án viện trợ kỹ thuật thường được sử dụng chủ yếu cho việc thuê chuyên gia tư vấn, tổ chức đào tạo, nghiên cứu và mua sắm trang thiết bị văn phòng. Các dự án kỹ thuật thường có quy mô nhỏ.
Sự luân chuyển vốn viện trợ dưới dạng chung hoặc kỹ thuật luôn được chuyên gia nước ngoài tham gia thông qua bàn bạc, hỗ trợ giám sát trong toàn bộ quá trình thực hiện dự án, từ lên kế hoạch, phê duyệt, triển khai đến hoạt động và đánh giá sau dự án. Qua việc hợp tác này, bên nhận viện trợ có cơ hội tiếp cận cách làm việc và quản lý hiện đại từ chuyên gia quốc tế, cùng với việc sử dụng máy móc và thiết bị nước ngoài để hỗ trợ hoạt động của dự án. Phân theo nguồn cung cấp Nguồn vốn hỗ trợ song phương thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn viện trợ trên thế giới, có thể lên đến 80% và nhiều hơn so với viện trợ đa phương. Đây là hình thức viện trợ trực tiếp từ Chính phủ của một quốc gia cho Chính phủ của một quốc gia khác mà không thông qua bên thứ ba.
Nguồn vốn hỗ trợ song phương bao gồm cả viện trợ kỹ thuật như hỗ trợ nhập khẩu, chương trình hỗ trợ và dự án. Trong một số trường hợp, các quốc gia viện trợ thường đặt ra những điều kiện có lợi cho họ về mặt kinh tế và chính trị, như mở rộng thị trường, tận dụng tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực phong phú từ các quốc gia nhận viện 8 trợ, và tiêu thụ hàng hóa, máy móc và công nghệ thông qua các ràng buộc trong hợp đồng viện trợ. Đôi khi, giá cả các sản phẩm này còn cao hơn giá thị trường. Cụ thể, các nước viện trợ thường yêu cầu những ràng buộc có lợi cho họ như: + Ràng buộc về chính trị: các nước viện trợ sẽ đưa ra các yêu cầu với nước nhận viện trợ đi theo các đường lối và chính sách và mà họ đề ra.
+ Ràng buộc về kinh tế: tổ chức viện trợ đưa ra các yêu cầu cụ thể, như nước nhận phải ưu tiên đối tác của họ khi tham gia vào các dự án có sử dụng vốn viện trợ, hoặc sử dụng phần lớn nguồn vốn viện trợ để mua sắm hàng hóa, thiết bị và công nghệ từ nước cung cấp viện trợ. Ngoài ra, các tổ chức viện trợ cũng đưa ra các điều kiện nhằm ảnh hưởng đến nền kinh tế - xã hội của quốc gia nhận, như cam kết phát triển kinh tế theo hướng thị trường, ưu tiên phát triển một số lĩnh vực hoặc địa bàn cụ thể dành một phần viện trợ cho phát triển kinh tế tư nhân. Nhờ sự hỗ trợ đó, các nước nhận viện trợ có thể đạt được tăng trưởng kinh tế thông qua các chương trình phát triển hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hệ thống y tế, giáo dục, văn hóa, xã hội. Tuy nhiên, việc nhận viện trợ cũng đồng nghĩa với việc phải tuân thủ các yêu cầu ràng buộc từ phía nước viện trợ.