CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VE TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VA BIEN PHAP CAI THIEN TINH HÌNH TÀI CHÍNH CUA DOANH NGHIỆP 1. Khái quát chung về tài chính doanh nghiệp 1. Khát niệm tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp là 1 khâu trong hệ thống tài chính của nền kinh tế thi trường, là 1 phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sự ra đời của nền kinh tế hàng hóa tiền tệ, tính chất và mức độ phát triển của tài chính doanh nghiệp cũng phụ thuộc vào tính chất và nhịp độ phát trién của nền kinh tế hàng hóa. Theo Lưu Thị Huong, Vũ Huy Dao (2013): “Tai chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị nảy sinh gan liền với việc tạo lập, sử dụng các quỹ tiên tệ cua doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh ”.
Trong nền kinh tế thị trường, tài chính doanh nghiệp được đặc trưng bang những nội dung chủ yêu sau đây: Một là, tài chính doanh nghiệp phan ánh những luồng chuyên dich giá trị trong nền kinh tế. Luéng chuyên dịch đó là sự vận động của các nguồn tài chính gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đó là sự vận động của các nguồn tài chính được diễn ra trong nội bộ doanh nghiệp dé tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh và được diễn ra giữa doanh nghiệp với ngân sách nhà nước thông qua việc nộp thuế cho Nhà nước hoặc tài trợ tài chính; giữa doanh nghiệp với thị trường: thi trường hàng hóa — dịch vụ, thị trường sức lao động, thị trường tài chính. trong việc cung ứng các yếu tô sản xuất (đầu vào) cũng như bán hàng hóa, dịch vụ (đầu ra) của quá trình sản xuất kinh doanh.
Hai là, sự vận động của các nguồn tài chính doanh nghiệp không phải diễn ra 1 cách hỗn loạn ma nó được hòa nhập vào chu trình kinh tế của nền kinh tế thị trường. Đó là sự vận động chuyền hóa từ các nguồn tài chính hình thành nên các quỹ, hoặc vốn kinh doanh của doanh nghiệp và ngược lại. Sự chuyên hóa qua lại đó được điều chỉnh bằng các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị nhằm tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ phục vụ cho các mục tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu danh gia tình hình tài chính của doanh nghiệp 1.
Nguồn thông tin dùng để đánh giá và phương pháp đánh giá a) Nguồn thông tin đánh giá Thông tin tài chính Thông tin tài chính chủ yếu thu thập từ báo cáo tài chính của doanh nghiệp, bao gồm: Bảng cân đối kế toán mô tả tình trạng tài chính của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó. Thông thường, Bảng cân đối kế toán được trình bày dưới dạng cân đối số dư các tài khoản kế toán: Một bên phản ánh tài sản, một bên phản ánh nguồn vốn của doanh nghiệp. Bên tài sản phản ánh giá trị của toàn bộ tài sản hiện có đến thời điểm lập báo cáo thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp bao gồm tai sản có định và tài sản lưu động, bên nguồn vốn phan ánh số vốn dé hình thành các loại tài sản của doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo đó là vốn của chủ và các khoản nợ. Báo cáo kết quả kinh doanh cung cấp thông tin không kém phần quan trọng trong phân tích tài chính doanh nghiệp.
Khác với bảng cân đối kế toán, báo cáo Kết quả kinh doanh cho biết sự dịch chuyển của tiền trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và cho phép dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai. Báo cáo kết quả kinh doanh cũng giúp nhà phân tích so sánh doanh thu với số tiền thực nhập quỹ khi bán hàng hoá, dịch vụ; so sánh tổng chi phí phát sinh với số tiền thực xuất quỹ dé vận hành doanh nghiệp. Trên cơ sở doanh thu va chi phi, có thé xác định kết quả kinh doanh lỗ hay lãi trong năm. Như vậy, báo cáo Kết quả kinh doanh phản ánh kết quả hoạt động sản xuất- kinh doanh, phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định.
Nó cung cấp những thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật và trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tong hợp phan ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp. Phân tích báo cáo lưu chuyền tiền tệ sẽ cho thấy tiền tệ của doanh nghiệp sinh ra từ đâu và sử dụng vào những mục đích gì, từ đó, dự đoán được lượng tiền trong tương lai của doanh nghiệp, nam được năng lực thanh toán hiện tại. Đồng thời thấy được quan hệ giữa lỗ, lãi ròng với luồng tiền tệ cũng như hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính ảnh hưởng tới mức độ nào, làm tăng hay giảm tiền tệ.
Thuyết minh báo cáo tài chính là một báo cáo kế toán tài chính tổng quát nhằm mục đích giải trình và bố sung, thuyết minh những thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo, mà chưa được trình bày chỉ tiết, đầy đủ trong báo cáo tài chính khác. Thông tin phi tài chính Trong những thông tin phi tài chính, cần lưu ý thu thập những thông tin chung (thông tin liên quan đến trạng thái nền kinh tế, cơ hội kinh doanh, chính sách thuế, lãi suất), thông tin về ngành kinh doanh (thông tin liên quan đến vị trí của ngành trong nền kinh tế, cơ câu ngành, các sản phẩm của ngành, tình trạng công nghệ, thị phần.) và các thông tin về pháp lý, kinh tế đối với doanh nghiệp (các thông tin mà các doanh nghiệp phải báo cáo cho các cơ quan quản lý như: tình hình quản lý, kiểm toán, kế hoạch sử dụng kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. b) Phương pháp đánh gia Phương pháp so sảnh Phương pháp so sánh là phương pháp truyền thống được sử dụng phổ biến trong phân tích tài chính để xác định xu hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích. Vì vậy, để tiến hành so sánh phải giải quyết những vấn đề cơ bản, cần phải đảm bảo các điều kiện đồng bộ dé có thé so sánh được các chỉ tiêu tài chính như sự thống nhất về không gian, thời gian, nội dung phân tích, đơn vị tính toán.
- So sánh giữa số thực hiện kì này với số thực hiện kì trước dé thấy rd xu hướng thay đổi về tài chính của Doanh nghiệp, thấy được tình hình tài chính được cải thiện hay xấu đi như thế nào. - So sánh giữa số kế hoạch và số thực hiện để thấy rõ mức độ phan đấu của Doanh nghiệp. - So sánh giữa thực hiện kì này với mức trung bình của ngành dé thấy tình hình tài chính của Doanh nghiệp đang ở tình trạng tốt hay xấu so với toàn ngành. - So sánh theo chiều doc dé thay được tỷ trong của từng số ở mỗi bản báo cáo và qua đó chỉ ra ý nghĩa tương đối của các loại mục, tạo điều kiện thuận lợi cho việc so sánh.
- So sánh theo chiều ngang dé thấy sự biến động về cả số tuyệt đối và số tương đối của một khoản mục nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp. Phương pháp phân tổ Moi kết quả kinh doanh đều cần thiết và có thé chi tiết theo những hướng khác nhau. Thông thường trong phân tích, phương pháp phân tổ được thực hiện theo những hướng sau: + Chi tiết theo các bộ phận cấu thành chỉ tiêu: Mọi kết quả kinh doanh biểu hiện trên các chỉ tiêu đều bao gồm nhiều bộ phận. Chi tiết các chỉ tiêu theo các bộ phận cùng với sự biểu hiện về lượng của các bộ phận đó sẽ giúp ích rất nhiều trong việc đánh giá chính xác kết quả đạt được.
Với ý nghĩa đó, phương pháp chỉ tiết theo bộ phận cấu thành được sử dụng rộng rãi trong phân tích mọi mặt kết quả kinh doanh. Trong phân tích kết quả kinh doanh nói chung, chỉ tiêu giá trị sản lượng (hay giá trị dịch vụ trong xây lắp, trong vận tải, du lịch.) thường được chỉ tiết theo các bộ phận có ý nghĩa kinh tế khác nhau + Chỉ tiết theo thời gian: kết quả kinh doanh bao giờ cũng là kết quả của một quá trình. Do nhiều nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan khác nhau, tiến độ thực hiện quá trình đó trong từng đơn vị thời gian xác định thường không đều. Chi tiết theo thời gian sẽ giúp ích cho việc đánh giá kết quả kinh doanh được sát, đúng và tìm được các giải pháp có hiệu lực cho công việc kinh doanh.
Tuỳ đặc tính của quá trình kinh doanh, tuỳ nội dung kinh tế của chỉ tiêu phân tích và tuỳ mục đích phân tích, khác nhau có thể lựa chọn khoảng thời gian cần chỉ tiết khác nhau và chỉ tiêu khác nhau phải chỉ tiết. + Chỉ tiết theo địa điểm kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là do các bộ phận, các phân xưởng, đội, tổ sản xuất kinh doanh thực hiện. Bởi vậy, phương pháp này thường được ứng dụng rộng rãi trong phân tích tài chính. Phương pháp phân tích tỷ lệ Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính.
Sự biến đổi các tỷ lệ là sự biến đổi các đại lượng tài chính. Về nguyên tắc, phương pháp tỷ lệ yêu cầu cần phải xác định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu. Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các ty lệ tài chính được phân thành các nhóm tỷ lệ đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp. Đó là các nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn, nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời.
Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ, từng bộ phận của hoạt động tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau, tuỳ theo giác độ phân tích, người phân tích lựa chọn các nhóm chỉ tiêu khác nhau dé phục vu mục tiêu phân tích của mình. Phương pháp phân tích nhân tổ * Phương pháp thay thé liên hoàn Theo Lê Thị Xuân (2015), “Phương pháp thay thế liên hoàn là phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động của từng chỉ tiêu phân tích.