LỜI MỞ ĐẦU Một dự án xây dựng có nhiều yếu tổ cần hiểu như quản lý dự án xây dựng, cách thức quản lý dự án xây dựng, hồ sơ quản lý xây dựng và vai trò của dự án trong quá trình xây dựng. Quản lý dự án trực tiếp đóng một vai trò rất quan trọng. Nó ảnh hưởng đến chất lượng và tiến độ của dự án. Các vai trò chính của quản lý dự án xây dựng là: Thứ nhất, thông qua quản lý dự án có thé giúp tránh được những sai sót trong những công trình lớn, phức tạp.
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và không ngừng nâng cao đời sống nhân dân, nhu cầu xây dựng các dự án công trình quy mô lớn, phức tạp cũng ngày càng nhiều. Ví dụ, công trình xây dựng các doanh nghiệp lớn, các công trình thủy lợi, các trạm điện và các công trình phục vụ ngành hàng không. Cho dù là nhà đầu tư hay người tiếp quản dự án đều khó gánh vác được những ton thất to lớn do sai lầm trong quản lý gây ra. Thông qua việc áp dụng phương pháp quản lý dự án khoa học hiện đại giúp việc thực hiện các dự án công trình lớn, phức tạp đạt được mục tiêu đề ra một cách thuận lợi.
Thứ hai, áp dụng phương pháp quản lý dự án sẽ có thé khống ché, điều tiết hệ thống mục tiêu dự án. Một công trình dự án có quy mô lớn sẽ liên quan đến rất nhiều bên tham gia dự án như người tiếp quản dự án, khách hàng, đơn vị thiết kế, nhà cung ứng, các ban ngành chủ quản nhà nước và công chúng xã hội. Chỉ khi điều tiết tốt các mối quan hệ này mới có thể tiến hành thực hiện công trình dự án một cách thuận lợi. Thứ ba, Quản lý dự án thúc đây sự trưởng thành nhanh chóng của các nhân tài chuyên ngành Mỗi dự án khác nhau lại đòi hỏi phải có các nhân tài chuyên ngành khác nhau.
Tính chuyên ngành dự án đòi hỏi tính chuyên ngành của nhân tài. Vì thế, quản lý dự án thúc đây việc sử dung và phát triển nhân tai, giúp cá nhân tài có đất để dụng võ. Phạm vi nghiên cứu: Số liệu từ năm 2016 — 2025 CHUONG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VE CÔNG TAC QUAN LY DU AN TAI MOT DOANH NGHIEP 1.1 Co sở lí luận về dự án đầu tư 1. Khái niệm về dự án đầu tư Trong cuộc sống và công việc hàng ngày, chúng ta thường chứng kiến sự hình thành, tồn tại hay đồ vỡ của nhiều dự án khác nhau.
Danh từ “dự án” được dùng cho nhiều lĩnh vực và trong các hoạt động khác nhau của nền kinh tế quốc dân với mục đích và mục tiêu khác nhau. Nếu xét về mặt hình thức: Dự án đầu tư là một tập hồ sơ tai liệu trình bày một cách chỉ tiết và có hệ thống các hoạt động, chi phí theo một kế hoạch đề đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. Xét về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt được các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết qua cụ thé trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định. Xét trên góc độ quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế , xã hội trong một thời gian dài.
Trên góc độ tông quát nhất, dự án có thé được hiểu là hệ thống các công việc được xác định rõ mục tiêu, nguồn lực cũng như thời gian bắt đầu và kết thúc. Nói cách khác, dự án là một quá trình hoạt động đã xác định rõ mục tiêu cần phải đạt được trong những ràng buộc nhất định về thời gian và nguồn lực dé đạt mục tiêu đó. Mức tiêu thụ tài nguyên rất khác nhau trong các giai đoạn nhất định của dự án để tránh lãng phí và sử dụng tài nguyên một cách hiệu quả. Một dự án thành công bao gồm việc duy trì và thúc đây tiêu thụ tài nguyên.
Và các quỹ được phân phối dé phát triển lâu dài và bền vững. thời hạn tổ chức. Dự án đầu tư là cơ sở để thực hiện các biện pháp quản lý và chấp thuận đầu tư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Là cơ sở dé nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư và đánh giá hiệu quả của dự án.
Và điều đặc biệt quan trọng là thuyết phục các nha đầu tư đưa ra quyết định đầu tư. và các tô chức tín dụng dé tài trợ cho dự án. Đặc điểm của dự án đầu tư Dự án dau tư có những đặc diém cơ bản sau: Dự án có mục đích, mục tiêu rõ ràng. Tắt cả các dự án phải có kết quả được xác định rõ ràng.
Mỗi dự án bao gồm một tập hợp nhiều nhiệm vụ cần được thực hiện. Mỗi nhiệm vụ cụ thể lại có một kết quả riêng, độc lập. Tập hợp các kết quả cụ thé của các nhiệm vụ hình thành nên kết quả chung của dự án. Nói cách khác, dự án là một hệ thống phức tạp được phân chia thành nhiều bộ phận, phân hệ khác nhau dé thực hiện và quản lý nhưng phải thống nhất đảm bao các mục tiêu chung về thời gian, chi phí và hoàn thành với chất lượng cao.
Dự án có chu kỳ phát triển riêng và thời gian tồn tại hữu hạn. Dự án trải qua các giai đoạn hình thành, phát triển, có thời điểm bắt đầu và kết thúc. Dự án không kéo dài mãi mãi. Khi dự án kết thúc, kết quả dự án được chuyền giao cho bộ phận quản lý vận hành, nhóm quan tri dự án giải tan.
Dự án liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận quản lý chức năng với quản lý dự án. Dự án nào cũng có sự tham gia của nhiều bên như chủ đầu tư, nhà thầu, các nhà tư vấn, cơ quan quản lý Nhà nước. Tùy theo tính chất của dự án và yêu cầu của chủ đầu tư mà sự tham gia của các thành phần trên cũng khác nhau. Bộ phận quản lý chức năng và bộ phận quản lý dự án thường xuyên có quan hệ với nhau và cùng phối hợp thực hiện nhiệm vụ nhưng mức độ tham gia của các bộ phận không giống nhau.
Dé thực hiện thành công mục tiêu của dự án, các nhà quản lý dự án cần duy trì thường xuyên mối quan hệ với các bộ phận quản lý khác. Sản phẩm dự án mang tính chất đơn chiếc, độc đáo. Không giống với quá trình sản xuất liên tục và gián đoạn, kết quả của dự án không phải là sản phâm sản xuất hàng loạt mà là sản phẩm có tính khác biệt cao. Sản phẩm và dịch vụ mà dự án đem lại là duy nhất, hầu như không lặp lại.
Tuy nhiên nhiều dự án tính duy nhất ít rõ ràng và bị che đậy bởi tính tương tự giữa chúng. Nhưng chúng vẫn có thiết kế khác nhau, vị trí khác, khách hàng khác,. Điều đó cũng tạo nên nét duy nhất, độc đáo, mới lạ của dự án. Môi trường hoạt động của dự án là “va chạm”, có sự tương tác phức tạp giữa dự án này với dự án khác, giữa bộ phận quản lý này với bộ phận quản lý khác.
Quan hệ giữa các dự án là quan hệ chia nhau cùng một nguồn lực khan hiếm của tổ chức. Dự án “cạnh tranh” lẫn nhau và với các hoạt động tổ chức sản xuất khác về nguồn vốn, nguồn nhân lực, trang thiết bị,. Trong quan lý có nhiều trường hợp các thành viên ban quản lý dự án có “hai thủ trưởng” nên không biết phải thực hiện mệnh lệnh của cấp trên trực tiếp nào khi có sự mâu thuẫn xuất hiện ở hai mệnh lệnh đó. Dự án có tính bất định và rủi ro cao, do đặc điểm mang tính dài hạn của hoạt động đầu tư phát triển.
Hầu hết các dự án đòi hỏi quy mô vốn, vật tư và lao động là rất lớn đề thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Vai trò của dự án đầu tư a) Đối với chủ đầu tư: Đối với chủ đầu tư thì dự án đầu tư là một cơ sở quan trọng nhất dé nhà đầu tư quyết định có nên tiến hành đầu tư dự án hay không. Dự án đầu tư vừa là công cụ để tìm đối tác trong và ngoài nước liên doanh bỏ vốn đầu tư cho dự án, vừa là phương tiện dé chủ đầu tư thuyết phục các tô chức tài chính tiền tệ trong và ngoài nước tài trợ hoặc cho vay vốn. Không những vậy, dự án đầu tư còn là cơ sở để xây dựng kế hoạch thực hiện dau tư, theo đõi, đôn đốc và kiểm tra quá trình thực hiện dự án và là căn cứ quan trong để theo đối đánh giá, để soạn thảo hợp đồng liên doanh và dé giải quyết các mối quan hệ tranh chấp giữa các đối tác trong quá trình thực hiện dự án b).
Đối với các đối tác ngân hàng Đối với các đối tác ngân hàng thi dự án dau tư là căn cứ quan trọng dé các cơ quan này xem xét tính khả thi của dự án, từ đó sẽ đưa ra quyết định có nên tài trợ cho dự án hay không và nếu tài trợ thì tài trợ đến mức độ nao dé đảm bảo rủi ro ít nhất cho nhà tài trợ. Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước: Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước thì dự án đầu tư là tài liệu quan trọng dé các cấp có thâm quyền xét duyệt, cấp giấy phép dau tư, đồng thời là căn cứ pháp ly dé toà án xem xét, giải quyết khi có sự tranh chấp giữa các bên tham gia đầu tư trong quá trình thực hiện dự án sau này.