Chương 1: Cơ sở Lý luận và thực tiễn về thanh tra, kiểm tra thuế và những vấn đề cơ bản về thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ở Việt Nam. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu về thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục thuế tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2012 - 2014. Chương 4: Các giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục thuế tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới. Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM 1.
Những nội dung cơ bản về Thanh tra, kiểm tra thuế 1. Khái niệm thanh tra, kiểm tra thuế Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá về tình hình chấp hành nghĩa vụ thuế của đối tượng kiểm tra [7]. Thanh tra thuế là hoạt động kiểm tra của tổ chức chuyên trách làm công tác kiểm tra của cơ quan thuế đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý những hành vi trái pháp luật [7]. Thanh tra là một hoạt động kiểm tra nên giữa thanh tra và kiểm tra có những điểm giống nhau.
Điểm giống nhau cơ bản của thanh tra và kiểm tra là chúng đều phải xem xét tình hình thực tế của đối tượng nhằm phát hiện, phân tích, đánh giá thực trạng tình hình, làm rõ đúng sai, chỉ rõ nguyên nhân để có biện pháp khắc phục. Do vậy, giữa thanh tra và kiểm tra có thể có cùng nội dung hoặc phương pháp tiến hành trong những phạm vi công việc nhất định. Tuy nhiên, giữa kiểm tra và thanh tra có các điểm khác nhau cơ bản sau: Thứ nhất, chủ thể của thanh tra không đồng nhất với đối tượng thanh tra. Chủ thể thanh tra là tổ chức thanh tra chuyên trách của Nhà nước; đối tượng thanh tra là đối tượng quản lý của Nhà nước.
Chủ thể của kiểm tra có thể đồng nhất, có thể không đồng nhất với đối tượng kiểm tra. Chẳng hạn, khi Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 đơn vị tự kiểm tra thì chủ thể và khách thể kiểm tra là một. Chủ thể kiểm tra thuế có thể là cơ quan nhà nước, có thể không phải là cơ quan nhà nước. Thứ hai, tính chất của thanh tra là một hoạt động quyền lực của cơ quan quản lý nhà nước.
Kiểm tra là hoạt động trung tính, có thể là hoạt động quyền lực quản lý nhà nước, mà có thể là hoạt động quản lý đơn thuần. Thứ ba, mục đích của thanh tra là phát hiện, ngăn chặn những hành vi trái pháp luật. Mục đích của kiểm tra là phát hiện những sai lệch của đối tượng kiểm tra để điều chỉnh và ngăn chặn những sai lệch ấy (sai lệch có thể là vi phạm pháp luật, có thể chỉ là không đúng kế hoạch, không đúng yêu cầu,. Thứ tư, hoạt động kiểm tra có phạm vi rộng hơn, diễn ra ở tất cả các hoạt động kinh tế - xã hội và được thực hiện một cách thường xuyên liên tục.
Hoạt động thanh tra có phạm vi hẹp hơn vì hoạt động thanh tra là kiểm tra ở giai đoạn sau khi các hoạt động kinh tế - xã hội đã phát sinh. Hoạt động thanh tra phải giải quyết các “tồn đọng” trong quản lý, giải quyết các khiếu tố đối với các vi phạm của đối tượng kiểm tra. Thứ năm, về hình thức tổ chức: để tiến hành hoạt động thanh tra phải thành lập đoàn thanh tra, trong khi kiểm tra có thể phải thành lập đoàn kiểm tra, có thể chỉ do một người tiến hành, không nhất thiết phải thành lập đoàn. Cũng có trường hợp cấp trên yêu cầu cấp dưới tự kiểm tra một hoặc một số nội dung và báo cáo kết quả bằng văn bản cho cấp trên.
Công tác thanh tra và kiểm tra tuy có những điểm khác nhau song đều là những hoạt động không thể thiếu trong công tác quản lý của Nhà nước. Việc phân biệt thanh tra và kiểm tra không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc tổ chức, chỉ đạo, tránh sự chồng chéo, giảm bớt phiền hà cho các đối tượng được thanh tra, kiểm tra [7]. Đặc điểm của thanh tra, kiểm tra thuế Thanh tra, kiểm tra thuế là một lĩnh vực đặc thù với các đặc điểm cơ bản sau: Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Thứ nhất, thanh tra, kiểm tra thuế có phạm vi rộng. Đối tượng thanh tra, kiểm tra là các tổ chức, cá nhân trong ngành Thuế, là đối tượng nộp thuế bao gồm mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của các luật thuế.
Thứ hai, thanh tra, kiểm tra thuế là công tác rất khó khăn, phức tạp vì nó đụng chạm trực tiếp đến lợi ích kinh tế của đối tượng nộp thuế. Để che giấu các hành vi trốn thuế nhằm bảo vệ lợi ích vật chất của mình, các đối tượng nộp thuế thường tìm mọi biện pháp cản trở, gây khó khăn cho công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế. Thứ ba, thanh tra, kiểm tra thuế là công việc đòi hỏi rất cao về năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức của người cán bộ làm việc trong lĩnh vực này. Để xác định đúng đắn nghĩa vụ thuế của đối tượng thanh tra, đòi hỏi người cán bộ thuế không chỉ nắm chắc các luật thuế mà còn phải nắm bắt được bản chất các hoạt động kinh tế của đối tượng thanh tra, tức là người cán bộ thanh tra còn phải có sự am hiểu sâu rộng về kinh tế, giỏi kế toán, sâu sắc trong tư duy lô gíc.
Đồng thời, người cán bộ thanh tra thuế cần phải có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh vững vàng vì thường xuyên phải làm việc trong môi trường có sự cám dỗ về vật chất. Thanh tra, kiểm tra thuế là hoạt động có tính chất pháp lý cao, liên quan đến lợi ích kinh tế và chính trị của nhiều đối tượng trong xã hội. Do đó, công tác thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo các yêu cầu sau đây: Thứ nhất, thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo chính xác, khách quan, trung thực, xử lý đúng người đúng tội, không bao che, quy chụp cho các đối tượng được thanh tra, kiểm tra. Đây chính là những yêu cầu hàng đầu của thanh tra, kiểm tra thuế vì chỉ khi đảm bảo những yêu cầu này mới đạt được mục đích của công tác thanh tra, kiểm tra thuế, mới làm cho thanh Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 tra, kiểm tra thuế thực sự trở thành cán cân công lý, mới có được sự tin tưởng của quần chúng nhân dân.
Thứ hai, thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo công khai, dân chủ, kịp thời, tạo điều kiện tốt nhất để quần chúng nhân dân tham gia ý kiến. Đảm bảo công khai, dân chủ là yêu cầu quan trọng của công tác thanh tra, kiểm tra thuế vì thông qua đó phát huy được sức mạnh và vai trò của quần chúng nhân dân trong công tác giám sát tuân thủ pháp luật. Yêu cầu kịp thời được đặt ra trong công tác thanh tra, kiểm tra thuế nhằm khắc phục những yếu kém, bất cập trong quản lý Nhà nước; ngăn chặn đúng lúc các hành vi tiêu cực, tránh những tổn thất nặng nề cho Nhà nước và nhân dân. Thứ ba, thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo thực hiện đúng các luật thuế, ngăn ngừa, loại trừ các hành vi trốn, lậu thuế.
Đây là yêu cầu thiết yếu của công tác thanh tra, kiểm tra thuế; đạt được yêu cầu này thì công tác thanh tra, kiểm tra thuế mới làm tròn chức năng và nhiệm vụ của mình. Nguyên tắc thanh tra, kiểm tra thuế Mục đích của thanh tra, kiểm tra thuế là phát huy nhân tố tích cực, ngăn ngừa, xử lý những sai phạm gây tổn thất tới lợi ích của Nhà nước, của nhân dân, của các doanh nghiệp, góp phần hoàn thiện chính sách thuế, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Để đạt được mục đích trên, công tác thanh tra, kiểm tra thuế phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định. Đó là các nguyên tắc sau: - Nguyên tắc tuân thủ pháp luật Pháp luật thể hiện ý chí của nhà nước, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân.
Thanh tra, kiểm tra thuế là kiểm tra việc thực hiện pháp luật nên phải tuân thủ pháp luật. Đây cũng là nguyên tắc cần thiết để đề cao trách nhiệm của chủ thể thanh tra, kiểm tra; nâng cao hiệu lực của công tác thanh tra, kiểm Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 tra thuế; ngăn chặn tình trạng làm trái pháp luật, vô hiệu hoá hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế. Thực hiện đúng nguyên tắc này có nghĩa là các cơ quan và cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế phải thực hiện đúng chức năng, trách nhiệm, quyền hạn mà pháp luật quy định; xem xét sự đúng sai của đối tượng kiểm tra phải căn cứ vào quy định của pháp luật, không tuân theo ý kiến của bất cứ một cơ quan hoặc cá nhân nào. Kết luận thanh tra, kiểm tra theo đúng quy định pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật.
- Nguyên tắc trung thực, chính xác, khách quan Đảm bảo tính trung thực, chính xác, khách quan là vấn đề có tính nguyên tắc cao trong công tác thanh tra, kiểm tra. Có trung thực, chính xác, khách quan trong công tác thanh tra, kiểm tra thì mới cho phép đánh giá đúng thực trạng của đối tượng kiểm tra, xử lý đúng người đúng việc, đúng pháp luật. Nguyên tắc khách quan và chính xác đòi hỏi trong hoạt động thanh tra, kiểm tra phải tôn trọng sự thật, đánh giá sự vật, hiện tượng như nó vốn có, không suy diễn hay quy chụp một cách chủ quan, phải tiến hành công việc một cách thận trọng. Nguyên tắc trung thực đòi hỏi trong hoạt động thanh tra, kiểm tra phải phản ánh và đánh giá đúng bản chất của sự vật, hiện tượng; vô tư, không thiên lệch; không vì quyền lợi cá nhân; phải tỷ mỷ, cẩn thận và phải có kiến thức chuyên môn vững vàng, hiểu biết sâu rộng và sâu sát thực tiễn.