Chương 1 và nêu lên tính đóng góp về mặt thực tiễn và khoa học của bài nghiên cứu. 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm liên quan 2. Công việc làm thêm Công việc bán thời gian là việc làm mà cá nhân làm việc ít giờ hơn mỗi tuần so với một vị trí làm việc toàn thời gian, thường là khoảng ít hơn 35 giờ trên tuần.
Công việc bán thời gian mang lại một khung cảnh linh hoạt, cho phép cá nhân điều hướng qua bước nhảy phức tạp giữa công việc và cuộc sống (Hochschild and Machung, 1989). Sự linh hoạt này quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu đa dạng của lực lượng lao động. Công việc bán thời gian có thể được tìm thấy trong nhiều ngành công nghiệp, mang lại cơ hội cho cá nhân cân bằng giữa công việc và cam kết cuộc sống khác nhau như giáo dục, trách nhiệm gia đình, hoặc sở thích cá nhân. Các vị trí này thường cung cấp tính linh hoạt trong lịch trình, làm cho chúng phù hợp cho nhiều đối tượng khác nhau, bao gồm sinh viên, người nghỉ hưu, cha mẹ và những người tìm kiếm thu nhập bổ sung hoặc một hình thức làm việc linh hoạt hơn.
Tính chất của công việc bán thời gian cho phép cá nhân theo đuổi các sở thích hoặc cam kết khác trong khi vẫn tham gia vào công việc có hiệu suất (Hewlett and Luce, 2005) Qua đó cho thấy, sinh viên chọn tham gia vào công việc làm thêm vì nó không chỉ đòi hỏi ít thời gian, kinh nghiệm và bằng cấp mà còn mang lại nguồn thu nhập bổ sung. Hơn nữa, việc làm thêm giúp họ tích lũy kinh nghiệm cho tương lai và đáp ứng nhiều mục tiêu khác nhau, phản ánh sự linh hoạt và sáng tạo trong quá trình học và phát triển cá nhân. Hành vi ra quyết định Theo Kahneman (2011), việc đưa ra quyết định hành vi đề cập đến quá trình quyết định lựa chọn các hành động, phản ứng hoặc phản ứng dựa trên xu hướng hành vi, sở thích và thái độ cá nhân. Quyết định hành vi thường được định hình bởi những 6 định kiến tâm lý và những phép quyết định ngắn gọn, tạo nên sự dự đoán trong lựa chọn của chúng ta.
Hoặc có thể nói theo cách khác, theo Simon (1947), “Các quyết định hành vi thường bị giới hạn bởi tính hợp lý, các cá nhân lựa chọn việc hài lòng hơn là tối ưu hóa quyết định. Một số lý thuyết liên quan 2. Thuyết nghề nghiệp nhận thức xã hội (SCCT) Thuyết nghề nghiệp nhận thức xã hội (Bandura, 1986) là một lý thuyết tâm lý xã hội về phát triển nghề nghiệp, nhấn mạnh vai trò của các yếu tố nhận thức và xã hội trong việc ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề nghiệp và thành công trong nghề nghiệp. SCCT xây dựng dựa trên lý thuyết nhận thức xã hội, trong đó nêu bật sự tương tác qua lại giữa các yếu tố cá nhân, hành vi và môi trường.
Thuyết nhận thức xã hội nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học tập bằng quan sát, sự tự tin vào năng lực bản thân và những kỳ vọng về kết quả trong quá trình ra quyết định nghề nghiệp. Cá nhân học hỏi từ việc quan sát người khác (hình mẫu) và điều chỉnh các lựa chọn nghề nghiệp của mình dựa trên kết quả nhận được của những lựa chọn đó. Lý thuyết này có ý nghĩa thực tiễn trong việc tư vấn nghề nghiệp, can thiệp và thiết kế các chương trình giáo dục và đào tạo 2. Thuyết phong cách ra quyết định Lý thuyết về phong cách ra quyết định (Scott và Bruce, 1995) nhấn mạnh sự đa dạng trong cách các cá nhân tiếp cận quá trình đưa ra quyết định.
Bằng cách nhận thức và phân loại các phong cách quyết định khác nhau, lý thuyết này tập trung vào sự khác biệt cá nhân trong việc thu thập thông tin, đánh giá lựa chọn và đưa ra quyết định. Tầm quan trọng của nó nằm ở việc công nhận rằng không có cách tiếp cận nào phù hợp cho tất cả mọi người, thay vào đó, nhấn mạnh sự tồn tại của nhiều yếu tố như tính hợp lý, trực giác, và sự phụ thuộc vào thông tin bên ngoài. Thuyết quyền tự quyết (SDT) Thuyết về quyền tự quyết là một thuyết vĩ mô (Ryan, 2012) tập trung vào động lực và sự phát triển cá nhân của con người. Lý thuyết chủ yếu dựa trên niềm tin rằng mỗi cá nhân đều có những nhu cầu tâm lý tự nhiên làm động lực cho hành vi của họ.
Lý thuyết này đặt nặng vào quan trọng của quyền tự chủ, năng lực và mối quan hệ liên quan như là những nhu cầu cơ bản, có ảnh hưởng đến mức độ hạnh phúc và động lực nội tại của người đó. Điều này cũng có nghĩa, tự quyết là tự bản thân đựa ra chọn lựa phù hợp, tự kiểm soát nguồn tài chính, thời gian rảnh và tự hiểu bản thân đang mong muốn điều gì, hạn chế phụ thuộc vào những cá nhân xung quanh. Ngoài động lực, lý thuyết về quyền tự quyết còn được áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm giáo dục, công việc, thể thao, chăm sóc sức khỏe và phát triển cá nhân. Nó đã được nghiên cứu rộng rãi và cung cấp những hiểu biết có giá trị để hiểu làm thế nào các cá nhân có thể được thúc đẩy theo cách thúc đẩy hạnh phúc của họ và thúc đẩy sự phát triển cá nhân tích cực.
Những động lực đó một phần đã thúc đẩy các bạn sinh viên quyết định lựa chọn việc đi làm thêm để đáp ứng những nhu cầu và tự chủ bản thân. Các nghiên cứu liên quan 2. Lược khảo nghiên cứu trong nước Nguyễn Xuân Long (2009) đã thực hiện nghiên cứu về “Nhu cầu làm thêm của sinh viên Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội”. Với cuộc khảo sát trên 480 sinh viên đã chỉ ra rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia công việc làm thêm của sinh viên bao gồm Rèn luyện chuyên môn (Kinh nghiệm), Thu nhập cá nhân, Thời gian rảnh, Xác nhận năng lực cá nhân, và Mở rộng giao tiếp tăng sự cạnh tranh trong tương lai.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Như Ý (2012) về “Nhu cầu làm thêm của sinh viên tại trường Đại học Cần Thơ” đã cho thấy có nhiều biến tác động tích cực trong quan điểm làm thêm đối với các bạn sinh viên không chỉ ở trường Đại học Cần Thơ mà còn khu vực các trường Đại học phía Nam. Kết quả cho thấy, ngày càng có 8 nhiều sinh viên đánh giá cao việc làm thêm ngoài giờ học để tích lũy “Kinh nghiệm”, “Kỹ năng” và đáp ứng “Chi tiêu” trong đời sống. Theo một cuộc nghiên cứu từ nhóm sinh viên của trường Đại học Bách khoa TP.HCM (2014), nhóm sinh viên đã thu thập gồm 200 mẫu bao gồm các bạn sinh viên đang đi làm thêm, đã từng tham gia làm thêm và những bạn đang có ý định hoặc chưa làm thêm lần nào. Kết quả cuộc nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố quan trọng đối với quyết định đi làm thêm của các bạn sinh viên bao gồm “Thu nhập” và “Thời gian rảnh”.
Tại Đại học Cần Thơ, Vương Quốc Duy và cộng sự (2015) đã nghiên cứu về “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định làm thêm của sinh viên”. Dựa trên cuộc khảo sát với 400 sinh viên tại Đại học Cần Thơ và mô hình nghiên cứu bao gồm các nhân tố như năm học, nơi cư trú, thu nhập, chi tiêu, thời gian rảnh, kinh nghiệm - kỹ năng và kết quả học tập. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng các biến tác động tích cực đến quyết định của sinh viên gồm Năm học, Thu nhập, Chi tiêu, Kinh nghiệm - Kỹ năng và Kết quả học tập.1: Mô hình nghiên cứu quyết định đi làm thêm của sinh viên Nguồn: Vương Quốc Duy và cộng sự (2015) 9 Theo nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Thu Hà (2023) về “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định làm thêm của sinh viên trường Cao đẳng, Đại học trên địa bàn Hà Nội” cùng với 193 mẫu. Nghiên cứu cho thấy có nhiều chiều biến tác động bao gồm Nơi cư trú, Kinh nghiệm, Thu nhập, Thái độ cá nhân, Chuẩn chủ quan, Tính cách.
Và kết quả chỉ ra Tính cách không tác động đến quyết định của đi làm thêm của sinh viên.2: Mô hình nghiên cứu ý định làm thêm của sinh viên Nguồn: Vũ Thị Thu Hà (2023) Theo Vũ Xuân Tường và cộng sự (2022) nghiên cứu về “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định làm thêm của sinh viên trường Đại học Văn Lang” đã chỉ ra các yếu tố như Kinh tế, mối quan hệ, quỹ thời gian, kinh nghiệm – kỹ năng và kiến thức xã hội đều tác động tích cực đến quyết định đi làm thêm của sinh viên. Trong đó, bài nghiên cứu chỉ ra rằng yếu tố mối quan hệ và kiến thức xã hội ảnh hưởng mạnh mẽ đến sinh viên nhất trong việc quyết định tham gia vào công việc làm thêm.3: Mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến quyết định làm thêm của sinh viên Nguồn: Vũ Xuân Tường và cộng sự (2022) 2. Lược khảo nghiên cứu nước ngoài Theo nghiên cứu của tác giả Robinson (1999) với đề tài "Tác hại của việc làm thêm đối với sinh viên", nghiên cứu này được thực hiện trên một mẫu gồm 1202 sinh viên tại Australia và xem xét nhiều biến tác động khác nhau. Kết quả của nghiên cứu có thể làm rõ về những hậu quả tiêu cực của việc làm thêm đối với sinh viên.
Các biến tác động như Thu nhập, Kinh nghiệm, Kỹ năng sống, Kết quả học tập, Loại công việc, Động lực về công việc, và Nhận thức về công việc đã được xem xét để hiểu rõ hơn về cách mà công việc làm thêm có thể ảnh hưởng đến sự phát triển và kết quả học tập của sinh viên. Nghiên cứu “Những lý do tại sao sinh viên đại học thích làm việc bán thời gian” của Beatrice Lai (2011) tại Singapore đã thu thập được 120 mẫu, dựa trên học 11 thuyết tự quyết và động lực trong hành vi của con người. Kết quả cho thấy có 3 yếu tố tác động mạnh mẽ đến quyết định của sinh viên lựa chọn việc làm thêm bao gồm Thu nhập, Thời gian rảnh và Kinh nghiệm. Theo (Fei Guo, 2017) nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng và tỷ lệ mắc bệnh của sinh viên đại học làm việc làm thêm tại Trung Quốc, thu thập bao gồm 6977 mẫu cùng với lý thuyết cạnh tranh.
Kết quả chỉ ra rằng các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định làm thêm của sinh viên như Gánh nặng tài chính, Tăng sự cạnh tranh công việc trong tương lai và Thời gian rảnh.