Chương 1 đã cung cấp cái nhìn tổng quan về đề tài nghiên cứu, đồng thời nhấn mạnh tính cần thiết của nó. Tác giả đã làm rõ đối tượng và phạm vi nghiên cứu cụ thể. Ngoài ra, chương cũng nêu ra các mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, cùng với những đóng góp lý thuyết và thực tiễn mà đề tài mang lại. Hơn nữa, tác giả đã lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp và phác thảo nội dung dự kiến sẽ được trình bày trong bài viết.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Một số khái niệm liên quan 2. Khái niệm ra quyết định Theo Simon (1986), ra quyết định là một quá trình gồm các bước mà cá nhân nhận thức vấn đề. Từ đó lựa chọn niềm tin cá nhân hoặc lựa chọn các phương án khả thi khác.
Mỗi một quá trình để ra quyết định sẽ tiến đến một lựa chọn duy nhất và điều ấy có thể hoặc là không thể mang lại lợi ích cho hành động sau đó. Ra quyết định là một quá trình tìm hiểu các phương án và chọn ra được các phương án thay thế dựa trên nền tảng là các sự hiểu biết, mong muốn và niềm tin của cá nhân ra quyết định. Ngoài ra, Yates và Zukowski (1976) ra quyết định là hoạt động chọn hành động cụ thể hoặc quyết định không thực hiện hành động nào để đạt được các mục tiêu đã đề ra. Bên cạnh đó, ra quyết định còn có thể hiểu là tập hợp các quyết định và hành động tiêu, phân bổ nguồn lực cần thiết để thực hiện được mục tiêu.
Công việc bán thời gian (Part-time job) Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) định nghĩa “Công việc bán thời gian là việc làm có số giờ làm việc ít hơn bình thường của những người lao động toàn thời gian tương đương của quốc gia, ngành hoặc nghề nghiệp. Người lao động được xem như người làm việc bán thời gian nên họ thường làm việc ít hơn 30 hay 35 giờ hàng tuần”. Tại Việt Nam, công việc bán thời gian được được hiểu là “công việc không trọn thời gian”. Theo đó, “Công việc không trọn thời gian là người lao động làm việc không trọn thời gian là người lao động có thời gian làm việc ngắn hơn so với thời gian làm việc bình thường theo ngày hoặc theo tuần hoặc theo tháng được quy định trong pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy lao động” (khoản 1 Điều 32 Bộ luật Lao động 2019).
Theo Thurman và Trah (1990), công việc làm thêm hay công việc bán thời 9 gian (part - time work) được định nghĩa là “việc làm mà trong đó số giờ làm việc ít hơn bình thường”. Thurman và Trah (1990) cho rằng lý do nhiều sinh viên lựa chọn đi làm thêm bán thời gian là vì họ muốn sử dụng thời gian rỗi của bản thân để kiếm thêm thu nhập nhằm có thể chi trả cho những nhu cầu cá nhân hoặc học phí. Các lý thuyết liên quan 2. Lý thuyết hành vi hợp lý (TRA) Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) được phát triển bởi Ajzen và Fishbein (1980) để lý giải hành vi con người, dựa trên sự tương tác giữa các yếu tố nhận thức và thái độ.
Theo TRA, hành vi của cá nhân chủ yếu được dự đoán bởi hai yếu tố: thái độ đối với hành vi và chuẩn mực chủ quan. Thái độ phản ánh mức độ tích cực hay tiêu cực mà một cá nhân cảm nhận về hành động cụ thể. Bên cạnh đó, chuẩn mực chủ quan đề cập tới niềm tin cá nhân về sự ảnh hưởng của những người khác trong quyết định của mình. Thái độ đối với 2.
hành vi Ý định hành vi Hành vi Chuẩn chủ quan Hình 2.1 Mô hình thuyết hành động hợp lý – TRA (Nguồn: Fishbein & Ajzen, 1975) 2. Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) Lý thuyết TPB của Ajzen (1991) được mở rộng từ thuyết TRA do Ajzen và Fishbein phát triển (1975), nhằm dự đoán ý định của cá nhân tham gia vào hành vi cụ thể tại thời điểm và nơi xác định. TPB còn bổ sung thêm một yếu tố hành vi, bên cạnh hai thành phần chính là thái độ và chuẩn mực chủ quan đối với hành vi. Nó nói về mức độ dê hay khó khi thực hiện một hành vi.
Trong thuyết này, ý định thực hiện 10 hành vi có ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi và bị ảnh hưởng bởi thái độ, chuẩn mực chủ quan, cũng như là khả năng kiểm soát hành vi. Khi cả 3 này đều mạnh thì ý định thực hiện hành vi sẽ tăng lên và làm tăng khả năng thực hiện hành vi đó. Thái độ Chuẩn chủ Ý định hành vi Hành vi quan Kiểm soát hành vi Hình 2.2 Mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch – TPB (Nguồn: Ajzen, 1991) 2. Lý thuyết Vốn con người của Gary S.
Becker (1964) (HCT) Thuyết Vốn con người (Human Capital Theory) là một lý thuyết được xây dựng bởi Gary S. Becker, lý thuyết tập trung vào giá trị kinh tế của kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm và năng lực của con người. Lý thuyết này cho rằng đầu tư vào giáo dục, đào tạo và phát triển kỹ năng sẽ tăng cường năng lực sản xuất và giá trị của cá nhân trong thị trường lao động, dẫn đến thu nhập cao hơn và cơ hội việc làm tốt hơn. Vì vậy, làm việc trong khi học tập dự kiến sẽ được hưởng lợi trên thị trường lao động, đặc biệt nếu công việc đó liên quan đến các môn học mà sinh viên được học.
Trong lý thuyết HCT việc đi làm không chỉ giúp cá nhân trau dồi thêm kỹ năng mà còn kết nối các cá nhân với các nhà tuyển dụng nhằm tạo ra một mạng xã hội có thể giúp tìm kiếm những cơ hội việc làm tốt nhất. Becker (1964) đã chỉ ra rằng việc đầu tư vào bản thân có thể được so sánh với cách mà các doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư vào tài sản vật chất. Nói một cách khác, khi các doanh nghiệp quyết định đầu tư vào trang thiết bị mới nhằm gia tăng sản lượng, cá nhân cũng có thể chi tiền cho việc học hành và 11 đào tạo để nhận được nhiều lợi ích hơn trong tương lai. Theo quan điểm của Becker, vốn con người có thể được tích lũy thông qua nhiều phương thức như giáo dục, đào tạo, di cư và y tế.
Thông qua những phương thức này cá nhân thu nhận được kiến thức, kỹ năng và khả năng theo những cách khác nhau. Như vậy có thể hiểu, việc mỗi sinh viên đang nỗ lực trong việc đầu tư vào học tập tại trường hoặc bên ngoài trường với niềm tin rằng kiến thức và kỹ năng của họ sẽ được cải thiện, giúp họ thăng tiến trong sự nghiệp. Đến năm 1988, từ góc độ lý thuyết vốn con người của Becker, nhà xã hội học người Mỹ Coleman đã công nhận tầm quan trọng của vốn con người và khẳng định rằng vốn xã hội cũng có ý nghĩa, vì nó đóng góp vào việc hình thành nên vốn con người của mỗi cá nhân. Vì thế, nhiều sinh viên lựa chọn đi làm thêm bán thời gian trong quá trình học của mình để có thể thiết lập và duy trì những mối quan hệ xã hội có ích cho họ trong tương lai.
Thuyết nhu cầu Maslow (1943) Trên cơ sở của lý thuyết về công việc bán thời gian của Thurman và Trah (1990) rằng nhiều sinh viên đi làm thêm bán thời gian vì phải chi trả những khoản phí cho nhu cầu cá nhân và học phí, tác giả lựa chọn lý thuyết tháp nhu cầu Maslow (1943) để làm cơ sở nền tảng xây dựng mô hình cho nghiên cứu này. Maslow (1943) cho rằng nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các thang bậc từ đáy tháp lên đỉnh tháp, từ thấp đến cao về tầm quan trọng và phản ánh “Hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu của họ. Sự thỏa mãn nhu cầu làm họ hài lòng và khuyến khích họ hành động”. Những nhu cầu sinh học: là những nhu cầu sinh lý, bao gồm những nhu cầu cơ bản như: ăn, uống, ngủ, các nhu cầu làm cho con người thoải mái,.
Đây là nhu cầu cơ bản nhằm đảm bảo cho con người duy trì sự sống. Những nhu cầu về an ninh và an toàn: Khi con người đáp ứng đủ nhu cầu sinh lý, họ sẽ có những mong cầu cao hơn. Đó là những nhu cầu về sự an toàn. Nói cách khác, họ mong muốn được ổn định, đảm bảo về an toàn, về nơi cư trú, tài chính của bản thân và gia đình.
Ngoài ra, họ cũng không muốn bị đe dọa về tài sản, 12 công việc, sức khỏe, tính mạng và gia đình,. Từ đó, có thể hiểu rằng nhu cầu an toàn tồn tại ở cả trong lẫn thể chất và tinh thần của mỗi cá nhân. Những nhu cầu về xã hội: là những nhu cầu được kết nối và hòa nhập với xã hội. Nhu cầu này có thể thể hiện qua việc một cá nhân mong muốn được yêu thương, được chấp nhận và mong muốn được tham gia một tổ chức, đoàn thể.
Cấp độ nhu cầu này cho thấy con người có nhu cầu giao tiếp để phát triển. Những nhu cầu được đánh giá và tôn trọng: là những nhu cầu về thành tựu khao khác được đóng góp giá trị, và được người khác thừa nhận, ghi nhận. Có thể hiểu đây là nhu cầu về quyền lực, uy tín, địa vị và lòng tự tin. Những nhu cầu về sự hoàn thiện: là những nhu cầu về sự tự chủ, sáng tạo và mong muốn pháp triển toàn diện về cả thể chất và trí tuệ.
Lược khảo các nghiên cứu trước đây 2. Nghiên cứu trong nước Vương Quốc Duy và cộng sự (2015) xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đi làm thêm của sinh viên Đại học Cần Thơ. Dựa trên điều tra trực tiếp 400 sinh viên của Đại học Cần Thơ về việc đi làm thêm, kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả đã chỉ ra rằng các biến có tác động đến quyết định đi làm thêm gồm: (1) Năm đang học, (2) Thu nhập, (3) Chi tiêu, (4) Thời gian rảnh, (5) Kinh nghiệm – kỹ năng sống, (6) Kết quả học tập. Cụ thể, biến Năm đang học mang dấu dương, nghiên cứu chỉ ra những sinh viên học năm 3, năm 4 thì đi làm thêm nhiều hơn để tìm kiếm môi trường nhằm vận dụng lý thuyết đã được học vào thực tế, rèn luyện tính tự lập, chuẩn bị hành trang cho công việc trong tương lai.
Trái với kỳ vọng của nhóm tác giả, kết quả nghiên cứu thu được của 2 biến Thu nhập và Chi tiêu là các biến có tác động ngược chiều đến quyết định đi làm thêm. Trong khi đó, theo J.