CHƯƠNG 1: TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CÁC NHÂN TO ANH HUONG TỚI QUYÉT ĐỊNH ĐI LAM SAU TOT NGHIỆP CUA SINH VIÊN 1.1 Tổng quan nghiên cứu Theo số liệu sơ bộ của Tổng cục thống kê năm 2022, lao động từ 15 tuổi trở lên có việc lam năm 2022 là 50,6 triệu người, tang 1,5 triệu người so với năm 2021, tuy nhiên vẫn thấp hon năm 2019 là 56,8 nghìn người. Trong đó, số lao động có việc làm ở khu vực thành thi là 18,6 triệu người (tăng 877,3 nghìn người so với năm trước), lao động ở khu vực nông thôn là 31,9 triệu người (tăng 627,2 nghìn người so với năm trước). Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tudi năm 2022 là 2,21%, giảm 0,89 điểm phan trăm so với năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 9,70%, giảm 2,13 điểm phần trăm so với năm trước.
Tỷ lệ này tuy đã giảm so với các năm trước đó nhưng vẫn là một con số cao làm đau đầu không chỉ Nhà nước mà toàn xã hội. Trong đó tỷ lệ thất nghiệp của sinh viên mới ra trường chiếm một con số không nhỏ. Dé hạn chế tinh trạng này, nhiều biện pháp đã được thực hiện như giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông, giúp cho học sinh có một lựa chon phù hợp cho tương lai. Tuy nhiên, điều này lại chưa được thực hiện một cách triệt để ở bậc đại học.
Sinh viên khi học trên các giảng đường đã được cung cấp một khối lượng lớn về kiến thức nhưng lại không được dạy cách tìm việc làm. Thực tế, có một số lượng không nhỏ sinh viên sau khi ra trường không tìm được việc làm do thiếu những kỹ năng mềm liên quan đến việc chọn ngành nghề. Quan tâm đến vấn đề này, đã có rất nhiều nghiên cứu xã hội học quan tâm đến định hướng nghê của sinh viên sau khi ra trường. Luận văn thạc sỹ năm 2009 “Các yếu tô tác động đến định hướng nghề nghiệp của sinh viên năm cuôi các ngành khoa học xã hội” (Nghiên cứu trường 13 hợp trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn) của tác giả Phạm Huy Cường tập trung vào khách thể nghiên cứu là nhóm sinh viên năm cuối đại học vì tác giả cho rằng nhóm này đã có một quá trình đào tạo, tìm hiểu về nghề nghiệp và có tâm thế trong việc tìm việc làm.
Đây là một nghiên cứu định lượng với dung lượng mẫu là 250 sinh viên. Nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên hầu như đã có định hướng nghề nghiệp nhưng định hướng lại thiếu tinh cụ thé cũng như thực tế. Khi tìm việc, sinh viên quan tâm nhất đến tính ồn định và thu nhập. Bên cạnh đó, đề tài cũng đưa ra và phân tích một số yếu tố tác động đến định hướng nghề của sinh viên như gia đình, bạn bè, truyền thông đại chúng, môi trường học tập, môi trường nghề nghiệp.
Luận văn “Định hướng nghề nghiệp và khu vực làm việc sau tốt nghiệp của sinh viên ngoài công lập hiện nay” (Nghiên cứu Trường Đại học Đông Đô) của tác giả Nguyễn Thị Minh Phương. Tìm hiểu định hướng nghề nghiệp trước khi thi đại học và định hướng nghề nghiệp sau khi học tập từ năm thứ nhất đến năm thứ tư. Định hướng nghề nghiệp và khu vực làm việc của sinh viên daihoc đông đô, tìm hiểu định hướng nghề nghiệp và khu vực làm việc sau tốt nghiệp của sinh viên đại học đông đô. Giả thuyết 1: lựa chọn ngành học của sinh viên đại học đông đô hiện nay khác khá xa so với định hướng nghề nghiệp ban đầu cua họ.
Gia thuyét 2: sinh viên có xu hướng tìm việc làm khu vực liên doanh và các đô thị lớn do môi trường làm việc và các quyên lợi khác. Giả thuyết 3 — định hướng nghề nghiệp có liên quan chặt chẽ tới năng lực thực tế của sinh viên. Giả thuyết 4 — vị thế xã hội của gia đình giúp sinh viên dé dàng tiếp cận được những cơ hội việc làm lớn. Nghiên cứu về “Định hướng nghề nghiệp của sinh viên Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn” của tác giả Nguyễn Thị Như Trang đã lựa chọn khách thê nghiên cứu là nhóm sinh viên năm 2 và năm 3.
Từ đó đi sâu phân tích , tìm 14 hiểu thực trạng định hướng nghề nghiệp trong tương quan với định hướng chuyên môn cũng như đánh giá hai yếu tố tac động đến định hướng nghề nghiệp của sinh viên là gia đình và trường học. Theo đó, tuy gia đình ít có vai trò trong việc lựa chọn chuyên môn và định hướng giá tri việc làm nhưng lại có vai trò đáng kể trong việc duy trì hướng chuyên môn của sinh viên. Nhà trường cũng có tác động nhất định đến định hướng nghề nghiệp của sinh viên nhưng sự tác động đó còn ở mức độ hạn chê so với đòi hỏi của thực tiên. Nghiên cứu “Thực trạng việc làm của ngành Việt Nam học tốt nghiỆp tại Đại học Cần Thơ” của các tác giả Nguyễn Trọng Nhân, Nguyễn Mai Quốc Việt, Lý Mỹ Tiên Khoa Khoa học Xã hội, Đại học Cần Thơ năm 2014 đăng trên tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ cho thấy, cũng như những ngành nghề khác, sinh viên ngành Việt Nam học làm việc trong nhiều lĩnh vực thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau.
Thời gian sinh viên tìm được việc làm rất thuận tiện, hầu hết có được việc làm trước khi nhận bằng tốt nghiệp và sau khi nhận bằng tốt nghiệp một khoảng thời gian ngắn. Thông báo của nhà tuyển dụng và sự giới thiệu của người quen là những kênh thông tin rất hữu ích đối với sinh viên tìm việc. Mức độ sinh viên sử dụng kiến thức và kỹ năng học được từ Trường vào công việc chỉ ở mức trung bình. Chức vụ có ảnh hưởng tích đến thu nhập.
Thu nhập có tác động đến mức độ yêu nghé và sự hài lòng đối với ngành nghề. Giao tiếp và dam phán là những kỹ năng rất cần thiết đối với sinh viên; các kỹ năng thuyết trình, hoạt náo, tô chức sự kiện, quản lý, làm việc nhóm, lãnh đạo thì cần thiết. Một số yếu tổ liên quan đến ngành dao tạo mới chỉ ở mức trung bình và hơi tốt. Một số ít sinh viên chưa có việc làm và nguyên nhân chính xuất phát từ năng lực của các em.
Tính chất công việc, lương bổng cũng là một trong những yếu tố có ảnh hưởng. 15 Nghiên cứu của Huỳnh Lê Uyên Minh - Khoa Sư phạm Toán - Tin Trường Đại học Đồng Tháp về “Vấn đề việc làm sau khi tốt nghiệp của sinh viên ngành tin học, ứng dụng khóa 2010”, tiến hành năm 2015 chỉ ra ty lệ sinh viên tốt nghiệp sau khi ra trưởng tìm được việc làm là rất cao, tỷ lệ chưa tìm được việc là ít và có một bộ phận sinh viên tiếp tục học tập nâng cao trình độ Một bộ phận không nhỏ sinh viên làm việc trái chuyên ngành, các lĩnh vực này phan lớn là tiếp thị sản phẩm , nhân viên bán hàng ở các cửa hàng thiết bị công nghệ, và một bộ phận nhỏ làm nhân viên kế toán ở các cửa hàng nhỏ. Một tỷ lệ không nhỏ sinh viên chấp nhận làm những việc không cần băng cấp tạm thời dé chờ cơ hội tìm kiếm việc làm khác. Vì thế, có không it sinh viên đã chọn giải pháp là học tiếp, học liên thông hay học văn băng hai với hi vọng sẽ kiếm một công việc tốt hơn.
Các việc làm tại địa phương — nơi sinh sống của sinh viên thuộc lĩnh vực như là giáo dục, quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng với mức lương khiêm tổn (dưới 3 triệu), một số ít phụ trách kỹ thuật cho các cửa hàng nhỏ lẻ ở địa phương. Việc làm gần nơi đào tạo phần lớn thuộc các lĩnh vực kỹ thuật viên, lập trình viên, các bạn có mơ ước tim kiếm cơ hội việc làm tốt hơn muốn học tiếp dé nang cao trình độ, một số sinh viên muốn làm việc gan noi hoc tap nén chap nhận làm các công việc trai lĩnh vực. Ngoài ra, một bộ phận không nhỏ sinh viên muốn tìm kiếm cơ hội việc làm với thu nhập cao hơn ở các thành phố lân cận và thành phó lớn, đối với những nơi thành thị chỉ một số ít sinh viên tìm được việc làm đúng chuyên ngành, còn lại số đông sinh viên phải chấp nhận công việc khác để kiếm tiền ở lại thành phố rồi tìm việc ồn định về sau. Từ đó tác giả đi tới kết luận, giải pháp tìm kiếm việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp là vấn đề cấp thiết, đòi hỏi khoa và nhà trường cần tạo nhiều mối liên kết giữa các doanh nghiệp hoặc với các địa phương đề thu thập thông tin về nhu cầu tuyển dụng.
Đồng thời, mỗi sinh viên cần phải có ý 16 thức tự giác chủ động trong việc học tập nhằm tích lũy các kiến thức chuyên môn và kỹ năng mêm trong việc tìm kiêm việc làm trước khi tôt nghiệp. Bài viết với nhan đề “Nhiều sinh viên ra trường không tìm được việc làm: Vì sao và tại ai? ”của tác gia Thanh Hà trong budi tọa đàm “Giải pháp gắn kết giữa đào tạo với thị trường lao động ở Việt Nam” của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức vào ngày 09/12/2011. Đây là hoạt động nằm trong dự án hợp tác “Cải cách chính sách giáo dục ở Việt Nam” giữa Trường DHKHXH&NV với Quỹ Rosa Luxemburg, Cộng hòa Liên bang Đức. Bài viết đã đưa ra con số về tình hình việc làm sau tốt nghiệp của sinh viên như sau: Với cỡ mẫu gồm 3000 sinh viên đã tốt nghiệp thì có 73% sinh viên đã tìm được việc làm nhưng có tới 58,2% sinh viên không biết xin việc ở đâu, 42% không đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyên dụng, 27% không xin được việc do ngành học không phù hợp với nhu cầu thị trường hay thậm chí có 18% sinh viên không tìm được việc do nhà tuyên dụng không biết tới ngành đào tạo.
Đặc biệt, theo tác giả những khó khăn lớn nhất gặp phải khi di xin việc cua sinh viên thường là: không biết tìm việc ở đâu, không có được việc do thiếu kỹ năng nhà tuyển dụng yêu cầu, nhà tuyển dụng không hiểu về chuyên ngành của sinh viên hoặc không có nhu cầu về nhân sự thuộc chuyên ngành đó.