Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục với đề tài "Bồi dưỡng tư duy thuận nghịch cho học sinh trong dạy học môn Toán ở trường Trung học phổ thông" do nghiên cứu sinh Thái Thị Hồng Lam thực hiện tại Trường Đại học Vinh vào năm 2014, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Văn Thuận, thuộc chuyên ngành Lý luận và phương pháp giảng dạy bộ môn Toán (mã số: 62 14 01 11).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả xuất phát từ yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI và Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2011–2020. Mục tiêu giáo dục hiện đại đòi hỏi chuyển từ truyền thụ kiến thức một chiều sang phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp tự học và nghiên cứu suốt đời cho học sinh. Thực tiễn giảng dạy môn Toán ở trường trung học phổ thông (THPT) cho thấy tình trạng phổ biến là giáo viên chủ yếu cung cấp kiến thức định lý, công thức rồi hướng dẫn học sinh áp dụng máy móc theo một chiều thuận. Mặc dù các công trình tâm lý học và giáo dục học trước đây từng nhắc đến khái niệm tính thuận nghịch (như J. Piaget, V.A. Cruchetxki), song chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống về loại hình tư duy mang tên tư duy thuận nghịch (TDTN) trong môn Toán cấp THPT, làm rõ nội hàm, cấu trúc năng lực và đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm khả thi.

Mục đích nghiên cứu của luận án là xác định nội hàm khái niệm tư duy thuận nghịch trong môn Toán trên cơ sở nêu lên và làm sáng tỏ các thành tố của năng lực tư duy thuận nghịch của học sinh; chứng minh sự cần thiết và khả năng bồi dưỡng loại hình tư duy này cho học sinh trong quá trình dạy học môn Toán ở các lớp bậc THPT thông qua việc xây dựng các biện pháp sư phạm phù hợp.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 4 nội dung chính:

  1. Tổng hợp những cơ sở lý luận và thực tiễn về tư duy, tư duy toán học và việc phát triển tư duy toán học cho học sinh.
  2. Làm sáng tỏ khái niệm tư duy thuận nghịch của học sinh THPT thông qua việc xác định các thành tố của năng lực tư duy thuận nghịch và các mức độ biểu hiện.
  3. Đề xuất một số biện pháp sư phạm góp phần bồi dưỡng tư duy thuận nghịch cho học sinh THPT trong dạy học môn Toán.
  4. Tổ chức thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.

Giả thuyết khoa học của luận án khẳng định: Nếu xây dựng được một số biện pháp sư phạm hợp lý, khả thi, có cơ sở khoa học xác đáng thì có thể bồi dưỡng tư duy thuận nghịch cho học sinh, góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy học môn Toán ở trường THPT.

Đối tượng nghiên cứu là quá trình dạy học môn Toán ở trường THPT theo định hướng bồi dưỡng tư duy thuận nghịch cho học sinh. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở chương trình, nội dung dạy học môn Toán cấp THPT (Đại số, Giải tích, Hình học) và các hoạt động khảo sát thực trạng, thực nghiệm sư phạm tại các trường THPT.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong luận án, tác giả đã tiến hành điểm luận các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến tư duy, tư duy toán học và tính thuận nghịch của quá trình nhận thức:

Ở bình diện quốc tế:

  • J. Piaget với Lý thuyết phát sinh nhận thức đã chỉ ra tính đảo ngược của các thao tác trí tuệ ở trẻ em từ 7–8 tuổi trở lên, xem tính thuận nghịch là "con ngươi" của nhận thức, hình thành trên cơ sở hai hành động thực tiễn ngược chiều nhau được chuyển hóa vào bên trong tâm lý.
  • Viện sĩ V.A. Cruchetxki (1968) trong công trình "Tâm lý năng lực toán học của học sinh" đã chỉ ra "tính thuận nghịch của quá trình tư duy trong lập luận Toán học", được định nghĩa là khả năng chuyển nhanh chóng và dễ dàng từ tư duy thuận (từ A đến B) sang tư duy đảo (từ B đến A), đồng thời xem đây là nét nổi bật của học sinh có năng khiếu toán học.
  • Edgar Morin tiếp cận tư duy như một dạng thức đối lôgic phức hợp của những hoạt động và thao tác, sử dụng các năng lực bổ sung và đối kháng của trí tuệ (như phân tích và tổng hợp) nhằm kiểm soát quá trình nhận thức, tránh rơi vào phiến diện.
  • M.N. Sacđacôp (Shardakov) khẳng định tính thuận nghịch là đặc điểm về chất của các mối liên hệ và dòng ý nghĩ thuận – nghịch là thuộc tính vốn có của bản thân hoạt động tư duy.
  • P.A. Shevarev và Pêtrốp chỉ ra hoạt động tư duy của học sinh diễn biến theo chiều thuận – nghịch.
  • Tsukasa Hirashima và Megumi Kurayama (2011, 2013) nghiên cứu phương pháp dạy học sinh đặt bài toán tư duy ngược trong môi trường học tập dựa trên máy tính ở cấp tiểu học.
  • G. Polya phân tích phép rút gọn thuận nghịch (hai chiều) hay phép biến đổi tương đương trong tiến trình giải quyết bài toán.

Ở bình diện trong nước:

  • Nguyễn Bá Kim đã nghiên cứu khả năng đảo ngược quá trình tư duy, lấy đích của quá trình đã biết làm điểm xuất phát cho quá trình mới và ngược lại, xem đó là một biểu hiện của tính linh hoạt trong tư duy; đồng thời xác định các tư tưởng chủ đạo phát triển tư duy hàm qua việc thiết lập và nghiên cứu các quan hệ tương ứng.
  • Vũ Dương Thụy và Hoàng Chúng khẳng định trong dạy học cần chú ý rèn luyện cho học sinh kỹ năng biến đổi xuôi chiều và ngược chiều song song với nhau nhằm hình thành liên tưởng ngược đồng thời với liên tưởng thuận; rèn luyện phương pháp suy nghĩ biện chứng qua các cặp thao tác đối lập (phân tích – tổng hợp, khái quát hóa – đặc biệt hóa, quy nạp – suy diễn).
  • Phan Trọng Ngọ nghiên cứu sự chuyển hóa hành động vật chất bên ngoài thành thao tác trí tuệ bên trong, đề xuất nguyên tắc hai thao tác ngược nhau phải được tiến hành liền kề nhau trong giáo dục.
  • Tôn Thân nghiên cứu bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh qua giải bài toán thuận nghịch và lập bài toán đảo.
  • Các tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, Đào Tam, Nguyễn Văn Lộc, Đào Văn Trung nghiên cứu các khía cạnh về tư duy lôgic, tư duy biện chứng và phương pháp suy nghĩ đa chiều.

Về vị trí nghiên cứu, luận án xác định khoảng trống: Các công trình đi trước chủ yếu xem tính thuận nghịch như một phẩm chất hay thao tác đơn lẻ, khảo sát cục bộ ở học sinh lứa tuổi nhỏ hoặc trong các nội dung hẹp. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện về tư duy thuận nghịch như một loại hình tư duy toán học chuyên biệt ở cấp THPT, chưa xác định đầy đủ các thành tố năng lực cấu thành cũng như chưa xây dựng hệ thống biện pháp sư phạm đồng bộ gắn với toàn bộ chương trình Toán THPT.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự tích hợp giữa tâm lý học nhận thức, lý luận dạy học môn Toán và phép biện chứng duy vật.

Các khái niệm và cơ sở lý thuyết nền tảng gồm:

  • Khái niệm tư duy: Tư duy là quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan. Tư duy diễn ra qua quy trình 4 bước: xác định vấn đề; huy động tri thức, hình thành giả thuyết; xác minh tính đúng/sai của giả thuyết; đánh giá kết quả.
  • Bốn nhân tố hình thành kiểu tư duy trong dạy học (theo A.V. Pêtrôvxki): (1) Tính chất của tài liệu học tập; (2) Kiểu bài toán; (3) Lứa tuổi và trình độ phát triển của học sinh; (4) Phương thức dạy học.
  • Năm căn cứ xác lập quan niệm tư duy thuận nghịch:
    1. Căn cứ vào nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và tính hai mặt đối lập thống nhất của phép biện chứng duy vật Mác – Lênin.
    2. Căn cứ vào các kết quả nghiên cứu tâm lý học về tính thuận nghịch của tư duy (J. Piaget, V.A. Cruchetxki, Edgar Morin, M. Sacđacôp, Phan Trọng Ngọ, Nguyễn Bá Kim).
    3. Căn cứ vào ý nghĩa từ nguyên của cụm từ "thuận nghịch" trong tiếng Việt (chỉ mối liên hệ xuôi – ngược hỗ trợ lẫn nhau).
    4. Căn cứ vào những khó khăn, sai lầm phổ biến của học sinh THPT khi giải toán (lập luận sai quy tắc kéo theo, hiểu nhầm điều kiện cần và đủ, biến đổi không tương đương, nhầm lẫn quan hệ hàm số).
    5. Căn cứ vào đặc điểm môn Toán và phương pháp toán học cấp THPT (tính cụ thể và trừu tượng, phương pháp quy nạp và suy diễn, tính thuận nghịch của định nghĩa, định lý, công thức, đẳng thức, phép biến hình).
  • Khái niệm tư duy thuận nghịch: Là cách suy nghĩ theo hai chiều ngược nhau nhưng hỗ trợ lẫn nhau giúp con người nhận thức và giải quyết vấn đề sâu sắc hơn, toàn diện hơn, đầy đủ hơn. Mô hình logic được mô tả bởi dạng quan hệ hai chiều $(A \rightleftarrows B)$ đối lập với quan hệ một chiều $(A \rightarrow B)$.
  • Khung cấu trúc năng lực TDTN gồm 6 thành tố và 3 cấp độ biểu hiện (Cấp độ 1: nhận thức dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên; Cấp độ 2: nhận thức và vận dụng dưới sự gợi ý bán phần; Cấp độ 3: tự giác nhận thức và độc lập giải quyết vấn đề).

Phương pháp nghiên cứu được triển khai kết hợp:

  1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập, phân tích, tổng hợp các tài liệu triết học, tâm lý học, giáo dục học và phương pháp dạy học môn Toán trong và ngoài nước liên quan đến tư duy toán học và tính thuận nghịch.
  2. Phương pháp điều tra quan sát: Tiến hành dự giờ, quan sát hoạt động dạy và học môn Toán tại các trường THPT; lập phiếu trưng cầu ý kiến giáo viên và học sinh nhằm đánh giá thực trạng bồi dưỡng TDTN.
  3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học thực nghiệm có nhóm đối chứng tại các trường THPT để kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của hệ thống biện pháp đề xuất; xử lý kết quả bằng phương pháp thống kê toán học (đánh giá định tính và định lượng).

Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm: sách giáo khoa và sách giáo viên môn Toán cấp THPT hiện hành; phiếu điều tra khảo sát giáo viên và học sinh; biên bản ghi nhận giờ dự dạy; các bài kiểm tra khảo sát và bài làm thực nghiệm của học sinh THPT.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về tư duy thuận nghịch trong môn Toán và đánh giá thực trạng dạy học tại trường THPT.

Nội dung lý luận của chương làm rõ:

  • Bản chất của tư duy toán học, cấu trúc năng lực toán học theo quan điểm của Iu.M. Koliagin, B.V. Gnedenko, A.I. Markushevich, A.N. Kolmogorov và V.A. Cruchetxki.
  • Luận giải 6 thành tố cấu thành năng lực tư duy thuận nghịch trong môn Toán:
    • Thành tố 1: Khả năng xác lập và sử dụng mối liên hệ hai chiều giữa các đối tượng trong một quan hệ có tính chất đối xứng ($A$ có quan hệ $R$ với $B$ và $B$ có quan hệ $R$ với $A$), thể hiện qua việc vận dụng công thức hai chiều, biến đổi phương trình/hệ phương trình tương đương, phép biến hình đối xứng.
    • Thành tố 2: Khả năng đặt và khảo sát vấn đề ngược khi xem xét một vấn đề cho trước, thể hiện qua việc tìm phép biến đổi ngược, xét mệnh đề đảo, lập bài toán đảo từ bài toán đã giải bằng cách hoán đổi giả thiết và kết luận.
    • Thành tố 3: Khả năng thực hiện các thao tác hay các hoạt động tạo thành cặp có xu hướng ngược nhau (phân tích – tổng hợp, khái quát hóa – đặc biệt hóa, quy nạp – suy diễn, nhận dạng – thể hiện, vẽ đồ thị – đọc đồ thị).
    • Thành tố 4: Khả năng nhìn nhận lại quá trình nhận thức và giải quyết vấn đề (tự phản biện, đánh giá tính đúng đắn của lời giải, phát hiện nghiệm ngoại lai hoặc thiếu nghiệm, thực hiện bước nghiên cứu sâu lời giải của G. Polya).
    • Thành tố 5: Khả năng xem xét mỗi tri thức theo các vai trò khác nhau (tri thức vừa là kết quả của hoạt động trước, vừa là phương tiện để tiến hành các hoạt động tiếp theo).
    • Thành tố 6: Khả năng khảo sát phương hướng tiếp cận vấn đề, định hướng và thực hiện cách giải quyết vấn đề có tính khác biệt, độc đáo (hoán đổi vai trò ẩn số và tham số, liên tưởng ngược từ biểu thức về tam thức bậc hai hoặc hằng đẳng thức, giải bài toán ngược để tìm nghiệm bài toán thuận).
Cấp độ Tiêu chí biểu hiện của học sinh Mức độ hỗ trợ của giáo viên
Cấp độ 1 Nhận thức được mối liên hệ hai chiều và cách khai thác trong tình huống học tập. Giáo viên thuyết trình, giảng giải, vấn đáp và hướng dẫn trực tiếp toàn bộ tiến trình.
Cấp độ 2 Nhận thức được mối liên hệ hai chiều và biết khai thác để giải quyết bài toán. Giáo viên gợi ý, dẫn dắt một phần, cụ thể hóa các bước trung gian khi học sinh gặp khó khăn.
Cấp độ 3 Tự mình nhận thức được mối liên hệ hai chiều và độc lập vận dụng vào giải quyết vấn đề. Giáo viên không định hướng trước, chỉ giữ vai trò đánh giá kết quả và ý nghĩa lời giải.

Chương 1 cũng phân tích mối quan hệ mật thiết giữa TDTN với tư duy phê phán (thể hiện ở sự tự phản biện, kiểm tra lập luận), tư duy biện chứng (thể hiện ở nhận thức tính hai mặt mâu thuẫn và thống nhất), tư duy lôgic (tuân thủ quy tắc suy luận, phép kéo theo, tương đương) và tư duy sáng tạo (tìm ra phương pháp giải độc đáo, thiết lập bài toán mới). Đồng thời, tác giả chứng minh vai trò của TDTN trong lịch sử phát triển toán học, tiêu biểu là bước chuyển từ số học sang đại số khi thay thế cấu tử bằng biến số trong phương trình ($3x - 4 = 11$), và sự ra đời của hình học phi Euclid từ việc phủ định định đề 5 của Janos Bolyai và N.I. Lobachevski.

Khảo sát thực trạng trong chương 1 chỉ ra: Phần lớn giáo viên THPT chưa có ý thức rèn luyện TDTN cho học sinh một cách có hệ thống; học sinh có thói quen tư duy một chiều, thường gặp lúng túng hoặc mắc sai lầm nghiêm trọng khi gặp các bài toán đòi hỏi biến đổi ngược, phân biệt điều kiện cần và đủ hoặc lập luận phản chứng.

Chương 2: Một số biện pháp góp phần bồi dưỡng tư duy thuận nghịch cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học môn Toán

Trên cơ sở lý luận của Chương 1, Chương 2 xây dựng hệ thống các biện pháp sư phạm cụ thể nhằm bồi dưỡng TDTN cho học sinh THPT:

  • Định hướng xây dựng biện pháp: Đảm bảo mục tiêu môn Toán THPT; bám sát nội dung chương trình; tích hợp tự nhiên vào các khâu dạy học khái niệm, định lý và bài tập; phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh.
  • Hệ thống các biện pháp sư phạm đề xuất:
    1. Biện pháp 1: Rèn luyện cho học sinh ý thức và khả năng sử dụng các công thức, định nghĩa, định lý theo hai chiều (thuận và nghịch), đặc biệt chú trọng chiều "từ phải sang trái" của các hằng đẳng thức và công thức lượng giác, phân tích điều kiện áp dụng ở từng chiều.
    2. Biện pháp 2: Rèn luyện cho học sinh ý thức và khả năng vận dụng bài toán ngược trong giải toán (tập luyện lập bài toán đảo, giải bài toán bằng phương pháp phản chứng, chuyển bài toán tìm điều kiện có nghiệm sang bài toán vô nghiệm).
    3. Biện pháp 3: Rèn luyện học sinh thực hiện thành thạo các cặp thao tác và hoạt động tư duy có chiều hướng ngược nhau (phân tích – tổng hợp, khái quát hóa – đặc biệt hóa, trừu tượng hóa – cụ thể hóa, quy nạp – suy diễn).
    4. Biện pháp 4: Tập luyện cho học sinh thói quen và kỹ năng nhìn nhận lại, tự kiểm tra, đánh giá quá trình nhận thức và giải quyết vấn đề (phân tích nguyên nhân thừa/thiếu nghiệm trong biến đổi phương trình, kiểm tra tính tối ưu của lời giải).
    5. Biện pháp 5: Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ việc bồi dưỡng tư duy thuận nghịch cho học sinh trong các nội dung Đại số, Lượng giác, Giải tích và Hình học không gian.

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Chương 3 trình bày việc tổ chức, tiến hành và đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.

  • Mục đích và tổ chức thực nghiệm: Thực nghiệm được tiến hành tại các trường THPT trên địa bàn tỉnh Nghệ An; lựa chọn các cặp lớp thực nghiệm (TN) và lớp đối chứng (ĐC) có trình độ học lực tương đương; lớp TN được giảng dạy theo giáo án tích hợp các biện pháp bồi dưỡng TDTN, lớp ĐC dạy học theo phương pháp thông thường.
  • Nội dung thực nghiệm: Thực nghiệm thông qua dạy học các chủ đề cụ thể trong chương trình Toán THPT như: Phương trình và hệ phương trình, Bất đẳng thức và giá trị lớn nhất - nhỏ nhất, Lượng giác, Khảo sát hàm số, Hình học không gian và Phép biến hình.
  • Đánh giá kết quả thực nghiệm:
    • Đánh giá định tính: Học sinh lớp thực nghiệm thể hiện sự tiến bộ rõ rệt về tính linh hoạt trong tư duy; biết chủ động xem xét bài toán theo hai chiều; hình thành thói quen kiểm tra lời giải và nhận thức được các bẫy logic về điều kiện tương đương; khả năng chuyển đổi phương hướng giải quyết vấn đề nhanh hơn so với học sinh lớp đối chứng.
    • Đánh giá định lượng: Kết quả các bài kiểm tra được thống kê, so sánh thông qua các đại lượng đặc trưng (điểm trung bình, tỉ lệ học sinh khá giỏi, độ lệch chuẩn, phân phối tần số). Điểm số của nhóm TN cao hơn nhóm ĐC với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, khẳng định tính hiệu quả của các biện pháp sư phạm đề xuất.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã đạt được những kết quả và đóng góp mới sau:

Về mặt lý luận:

  • Đã xác định và làm sáng tỏ nội hàm khái niệm tư duy thuận nghịch của học sinh trong môn Toán cấp THPT dựa trên 5 căn cứ khoa học vững chắc.
  • Đã xây dựng khung năng lực tư duy thuận nghịch trong môn Toán gồm 6 thành tố cụ thể và xác lập 3 cấp độ biểu hiện năng lực, tạo công cụ lý luận cho việc đánh giá năng lực tư duy của học sinh.
  • Làm rõ mối quan hệ bản chất giữa tư duy thuận nghịch với các loại hình tư duy khác (tư duy biện chứng, tư duy lôgic, tư duy sáng tạo, tư duy phê phán) và vai trò của TDTN trong lịch sử phát triển toán học.

Về mặt thực tiễn:

  • Đã đề xuất hệ thống 5 biện pháp sư phạm có cơ sở khoa học, tính khả thi và hiệu quả nhằm phát triển tư duy thuận nghịch cho học sinh trong dạy học môn Toán ở trường THPT.
  • Xây dựng hệ thống ví dụ, phản ví dụ, bài tập minh họa phân tích cụ thể các sai lầm tư duy của học sinh và hệ thống bài tập rèn luyện hai chiều, cung cấp tư liệu tham khảo phục vụ trực tiếp cho giáo viên dạy Toán THPT.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất:

  • Giáo viên cần chủ động tích hợp việc bồi dưỡng tư duy thuận nghịch vào mọi khâu của quá trình dạy học toán (từ dạy khái niệm, định lý, công thức đến giải bài tập).
  • Cần đa dạng hóa hình thức bài tập, đưa các dạng bài toán đảo, bài toán phủ định giả thiết, bài tập yêu cầu phân tích sai lầm logic vào kiểm tra, đánh giá thường xuyên nhằm khắc phục lối mòn tư duy một chiều của học sinh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Luận án tập trung nghiên cứu trên phạm vi nội dung chương trình môn Toán cấp THPT và thực nghiệm tại một số trường THPT trên địa bàn nhất định, chưa mở rộng khảo sát thực nghiệm ở các cấp học khác.
  • Nghiên cứu gắn liền với khung chương trình giáo dục phổ thông môn Toán tại thời điểm thực hiện (năm 2014).

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu bồi dưỡng tư duy thuận nghịch cho học sinh ở các cấp học khác (Tiểu học, THCS) hoặc cho sinh viên ngành Sư phạm Toán học.
  • Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin, các phần mềm dạy học toán động (như GeoGebra, Cabri) và môi trường học tập trực tuyến để thiết kế các kịch bản dạy học tương tác bồi dưỡng tư duy thuận nghịch.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tham khảo phương pháp tiếp cận nghiên cứu về năng lực tư duy toán học, cách thức xác lập khung thành tố năng lực và quy trình tổ chức thực nghiệm sư phạm.
  • Giảng viên các trường đại học sư phạm: Sử dụng nội dung Chương 1 và Chương 2 làm tài liệu giảng dạy chuyên đề về phát triển năng lực tư duy toán học cho sinh viên ngành Giáo dục Toán học.
  • Giáo viên môn Toán tại các trường THPT: Khai thác hệ thống 5 biện pháp sư phạm, các phân tích sai lầm logic điển hình của học sinh và hệ thống bài tập mẫu để thiết kế bài giảng, cải tiến phương pháp dạy học giải bài tập toán.
  • Các nhà biên soạn sách giáo khoa và tài liệu tham khảo: Tham khảo quan điểm tích hợp các bài toán thuận nghịch, bài toán đảo và các cặp hoạt động đối lập vào việc cấu trúc tài liệu học tập cho học sinh.

Phần đáng tham khảo nhất của công trình là hệ thống 6 thành tố năng lực TDTN và chuỗi ví dụ phân tích sai lầm của học sinh khi xử lý các mệnh đề toán học hai chiều trong Chương 1 và Chương 2.


Câu hỏi thường gặp

1. Tư duy thuận nghịch trong môn Toán được luận án định nghĩa như thế nào? Tư duy thuận nghịch được định nghĩa là cách suy nghĩ theo hai chiều ngược nhau nhưng hỗ trợ lẫn nhau giúp con người nhận thức và giải quyết vấn đề sâu sắc hơn, toàn diện hơn, đầy đủ hơn. Bản chất của TDTN là việc nhận thức và thiết lập mối liên hệ hai chiều dạng $(A \rightleftarrows B)$ thay vì chỉ tư duy một chiều dạng $(A \rightarrow B)$.

2. Năng lực tư duy thuận nghịch trong môn Toán gồm những thành tố cốt lõi nào? Năng lực TDTN gồm 6 thành tố: (1) Xác lập và sử dụng mối liên hệ hai chiều trong quan hệ đối xứng; (2) Đặt và khảo sát vấn đề ngược; (3) Thực hiện các cặp thao tác tư duy có xu hướng ngược nhau; (4) Nhìn nhận lại quá trình nhận thức và giải quyết vấn đề; (5) Xem xét tri thức theo hai vai trò (vừa là kết quả, vừa là phương tiện); (6) Khảo sát phương hướng giải quyết vấn đề có tính khác biệt, độc đáo.

3. Mối quan hệ giữa tư duy thuận nghịch và tư duy sáng tạo được thể hiện ra sao? TDTN hỗ trợ đắc lực cho tư duy sáng tạo thông qua việc phá vỡ lối mòn tư duy thông thường, khắc phục sức ì tâm lý bằng cách nhìn nhận vấn đề theo chiều ngược lại. Việc liên tưởng ngược, đổi vai trò giữa ẩn số và tham số, hoặc chuyển sang giải bài toán ngược giúp học sinh phát hiện ra những phương pháp giải toán độc đáo và thiết lập nên những bài toán mới.

4. Vì sao học sinh THPT thường mắc sai lầm khi vận dụng các định lý toán học theo chiều ngược lại? Học sinh thường mắc sai lầm do chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ tự nhiên (hiểu nhầm cấu trúc câu điều kiện "Nếu... thì..." vừa là điều kiện đủ vừa là điều kiện cần), không nắm vững quy tắc suy luận kéo theo và tương đương logic, dẫn đến việc ngộ nhận giả thiết của định lý thuận cũng là điều kiện cần của kết luận hoặc áp dụng mệnh đề đảo khi chưa được chứng minh.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Thái Thị Hồng Lam đã giải quyết một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc trong chuyên ngành Lý luận và phương pháp giảng dạy bộ môn Toán. Bằng việc làm sáng tỏ nội hàm, xác lập 6 thành tố và 3 cấp độ biểu hiện của năng lực tư duy thuận nghịch, công trình đã lấp đầy khoảng trống lý luận về loại hình tư duy này trong giáo dục toán học cấp THPT. Hệ thống 5 biện pháp sư phạm cùng các cứ liệu thực nghiệm đã minh chứng tính khả thi và hiệu quả của việc bồi dưỡng tư duy thuận nghịch, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Toán và phát triển tiềm lực tự học của học sinh phổ thông.