Chương 1: Cơ sở lí luận về công tác quản lí bồi dƣỡng giáo viên của hiệu trƣởng. Chương 2: Thực trạng quản lí bồi dƣỡng giáo viên vật lí THPT ở tỉnh Bắc Giang. Chương 3: Đề xuất biện pháp quản lí hoạt động bồi dƣỡng nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sƣ phạm cho giáo viên vật lí THPT tỉnh Bắc Giang. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ BỒI DƢỠNG GIÁO VIÊN CỦA HIỆU TRƢỞNG 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu Vấn đề bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giáo viên từ trước cho đến nay có nhiều tác giả trong và ngoài nước đề cập đến. Các công trình nghiên cứu của M. Gonôbôlin… đã đề cập và làm sáng tỏ về vai trò, phẩm chất năng lực và những đặc điểm lao động của người giáo viên. Ở Việt Nam, có rất nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của người giáo viên, về kĩ năng sư phạm, về đổi mới công tác đào tạo và bồi dưỡng…đã phần nào làm sáng tỏ về lý luận và thực tiễn trong việc bồi dưỡng và phát triển trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên.
Tiêu biểu là những công trình và bài viết của những tác giả sau: - Nguyễn Văn Lê (1998) “Nghề thày giáo”của Nxb Giáo dục. - Tôn Thân “Vai trò người giáo viên trong quá trình dạy học”, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số ra tháng 11/ 1996. - Nguyễn Hữu Dũng “Định hướng đổi mới phương pháp đào tạo và bồi dưỡng giáo viên”, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số ra tháng 12/1996. - Hồng Quang “Vật cản trong đổi mới phương pháp giáo dục”, Báo Văn nghệ, số ra ngày 22/11/03.
- Vũ Thế Dũng “Lực bất tòng tâm”, Báo Tuổi trẻ, số ra ngày 25/11/04. - Phan Sắc Long “Đổi mới đào tạo sư phạm gắn với đổi mới giáo dục phổ thông”, Báo Nhân dân, số ra ngày 06/ 11/04. - Minh Tuý “Giáo viên trước yêu cầu đào tạo lại, nhiệm vụ bắt buộc của các trường phổ thông”, Báo Giáo dục và Thời đại, số 70 ngày 12/06/2003. - Trường Giang “Vấn đề tự học và bùng nổ tài năng”, Tạp chí Dạy và học ngày nay, số 5 tháng 3/2003… 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mặc dù đã có nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu về vấn đề bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giáo viên song quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên vật lý của hiệu trưởng chúng tôi nhận thấy khá mới mẻ, vẫn còn ít được nghiên cứu.
Hiệu trưởng các trường THPT ở tỉnh Bắc Giang nhận thức mong muốn nâng cao chất lượng giáo dục, trước hết phải nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên nhưng chưa có được những cách làm cụ thể ở từng bộ môn. Với tầm quan trọng và sự cần thiết của vấn đề này, chúng tôi nghiên cứu và đề xuất các biện pháp quản lý của hiệu trưởng trong việc bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên vật lý tại các trường THPT của tỉnh Bắc Giang. Các khái niệm công cụ 1. Quản lý và quản lý giáo dục 1.
Khái niệm quản lý Khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện các mục tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách là những cá nhân riêng lẻ, thì quản lý xuất hiện như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân, hướng tới một mục tiêu chung. Các Mác đã nói: “Tất cả lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm thì tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [19, Tr. Có nhiều quan niệm khác nhau về “quản lý”, dựa theo những cách tiếp cận khác nhau, do đó dẫn đến sự phong phú trong các quan niệm về “quản lý”.
Sau đây là một số quan niệm tiêu biểu của các học giả trong và ngoài nước: Theo nhà quản lý bậc thầy người Mỹ, H. Koontz, thì “quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp nỗ lực của cá nhân để đạt 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được một mục đích của nhóm (tổ chức), mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường trong đó con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [17, Tr. Theo Frederick Win Slow Taylor, nhà quản lý học người Mỹ, thì quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất. Ômarốp (Liên Xô) thì quản lý là tính toán sử dụng hợp lý các nguồn lực nhằm thực hiện các nhiệm vụ sản xuất và dịch vụ với hiệu quả kinh tế tối ưu.
Ở trong nước tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: quản lý “là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động” [24, Tr. Còn theo Trung tâm nghiên cứu khoa học tổ chức và quản lý: “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung” [22, Tr. Cũng theo các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý ở trung tâm này thì thuật ngữ “quản lý” bao gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: “Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái ổn định; quá trình “lý” gồm sự sửa sang sắp xếp, đổi mới đưa vào thế phát triển. Nếu người đúng đầu tổ chức chỉ lo “quản” tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ; tuy nhiên nếu chỉ quan tâm đến việc “lý” tức là chỉ lo sắp xếp tổ chức, đổi mới mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định thì sự phát triển của tổ chức không bền vững.
Trong “quản” phải có “lý”; trong “lý” phải có “quản” để động thái của hệ ở thế cân bằng động: Hệ vận động phù hợp thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) với các nhân tố bên ngoài (ngoại lực)” [01, Tr. Còn theo tác giả Trần Quốc Thành, khoa TL - GD trường ĐHSP Hà Nội thì “quản lý là quá trình tác động của chủ thể đến đối tượng nhằm hướng dẫn điều khiển các quá trình xã hội, các hành vi hoạt động của con người để đạt tới một mục đích phù hợp với quy luật khách quan và phù hợp với ý chí của nhà quản lý” [12, Tr. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tóm lại, qua những quan niệm trên, ta có thể đưa ra một cách hiểu chung nhất về “quản lý” như sau: Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đảm bảo cho sự vân động, phát triển của hệ thống phù hợp với quy luật khách quan, trong đó sử dụng và khai thác có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội để đạt được mục tiêu đã định theo ý chí của nhà quản lý. Theo tác giả Trần Kiểm, quá trình tác động này có thể được mô hình hoá bằng sơ đồ sau: Công cụ Chủ thể Mục QL Đối tƣợng Tiêu Khách thể QL QL QL Phƣơng pháp Sơ đồ 1: Mô hình về quản lý 1.
Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục là một khoa học quản lý chuyên ngành, người ta nghiên cứu nó trên nền tảng của khoa học quản lý nói chung. Và cũng giống như khái niệm về quản lý, khái niệm quản lý giáo dục cũng có những cách tiếp cận khác nhau. Ở đây, chúng tôi chỉ đề cập đến khái niệm quản lý giáo dục trong phạm vi quản lý một hệ thống giáo dục nói chung, mà hạt nhân của hệ thống là các cơ sở trường học. Theo một số học giả nước ngoài thì “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp (tổ chức, phương pháp, cán bộ giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính, cung tiêu.) nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong hệ thông giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng” (M.
Khuđôminxki: “QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống (từ Bộ giáo dục đến nhà trường) nhằm mục đích bảo đảm việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện, hài hoà của họ” [12, Tr. Như thế, các quan điểm của các học giả nước ngoài đã có những đặc điểm khác nhau do cách quan niệm cũng như cách tiếp cận khác nhau. Các học giả trong nước cũng vậy, với mỗi cách tiếp cận, sẽ đưa đến những định nghĩa khác nhau về quản lý giáo dục. Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản Lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội, cũng như các quy luật quản lý giáo dục, của sự phát triển tâm lý và thể lực của trẻ em” [14, Tr.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất” [24, Tr.