phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học của hiệu trƣởng trƣờng THPT Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học ở THPT Lê Quý Đôn, Hà Đông. Chƣơng 3: Đề xuất biện pháp cải tiến quản lý hoạt động dạy học ở THPT Lê Quý Đôn, Hà Đông. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CỦA HIỆU TRƢỞNG TRƢỜNG THPT 1. Tổng quan các nghiên cứu về hoạt động dạy học trong trƣờng THPT.
Việc nâng cao chất lƣợng dạy học trong nhà trƣờng nói chung và nhà trƣờng phổ thông nói riêng từ lâu đã trở thành vấn đề quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nƣớc ta rất coi trọng sự nghiệp giáo dục. Với chủ trƣơng “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài” cả nƣớc và toàn dân đều có ý thức chăm lo cho sự nghiệp giáo dục với phƣơng châm “Đảng lãnh đạo, Nhà nƣớc quản lý và nhân dân làm chủ”. Luật Giáo dục năm 2005 , sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã khẳng định: “Đầu tƣ cho giáo dục là đầu tƣ phát triển”, phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học, công nghệ, củng cố quốc phòng, an ninh; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa; bảo đảm cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền; mở rộng quy mô trên cơ sở bảo đảm chất lƣợng và hiệu quả; kết hợp giữa đào tạo và sử dụng”.
Trong những năm 80, nhiều nhà sƣ phạm (Hà Thế Ngữ [22], Đặng Vũ Hoạt [23], Hồ Ngọc Đại [11], Nguyễn Ngọc Quang [24], .) đã tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện các vần đề về vị trí, vai trò của việc tổ chức quá trình dạy học, ý nghĩa của việc nâng cao chất lƣợng dạy học trên lớp đối với việc nâng cao chất lƣợng dạy học. Những ƣu điểm và nhƣợc điểm của hình thức tổ chức dạy học trên lớp, bản chất và mối quan hệ giữa các hoạt động học, vai trò của ngƣời dạy và ngƣời học; việc đổi mới nội dung và cách tổ chức tiến hành các hình thức tổ chức dạy học trên lớp. Những năm gần đây, đứng trƣớc nhiệm vụ đổi mới giáo dục đào tạo nói chung và đổi mới nội dung, phƣơng pháp dạy học nói riêng, nhiều ngƣời nghiên cứu trong đó có những nhà giáo dục học, tâm lý học (Phạm Viết Vƣợng [32], Phan Trọng Ngọ [20], Trần Kiểm [16], Đỗ Ngọc Đạt [12], .) đã đi sâu nghiên cứu về đổi mới nội dung dạy học theo hƣớng nâng cao tính hiện đại và gắn khoa học với thực tiễn sản xuất và đời sống, vấn đề lấy học sinh làm trung tâm hoạt động dạy học. Nhƣ vậy, vấn đề nâng cao chất lƣợng dạy học từ lâu đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc quan tâm trong những năm cuối thế kỷ XX khi mà xã hội 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sắp bƣớc vào một giai đoạn phát triển mới thì hơn bao giờ hết, vần đề này đƣợc quan tâm nhiều hơn và trở thành mối quan tâm chung của toàn xã hội, đặc biệt là của các nhà nghiên cứu giáo dục.
Ý kiến của các nhà nghiên cứu có thể khác nhau nhƣng điểm chung mà chúng ta thấy trong các công trình nghiên cứu của họ là: khẳng định vai trò quan trọng của công tác quản lý trong việc nâng cao chất lƣợng dạy và học ở các cấp học. Đây cũng chính là một trong những tƣ tƣởng mang tính chiến lƣợc về phát triển giáo dục của Đảng ta “Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phƣơng pháp và quản lý giáo dục đào tạo”. Quản lý hoạt động dạy học thực sự là vấn đề bức xúc đã đƣợc quan tâm nghiên cứu và cần tiếp tục nghiên cứu để đổi mới nhằm nâng cao chất lƣợng giảng dạy trong nhà trƣờng. Có ngƣời quản lý (hiệu trƣởng) giỏi sẽ có đội ngũ nhà giáo giỏi, từ đó ắt sẽ có học sinh giỏi.
Chính vì lẽ đó, vấn đề quản lý nhà trƣờng, quản lý hoạt động dạy học luôn đƣợc các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý giáo dục đề cập trong các công trình nghiên cứu khoa học và giáo trình giảng dạy ở các trƣờng đại học nhƣ: Đại học Giáo dục - Đại học quốc gia Hà Nội; Khoa Quản lý giáo dục, Trƣờng Đại học sƣ phạm Hà Nội và Học viện Quản lý giáo dục. Các luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục cũng đã có một số tác giả viết về lĩnh vực này. Các khái niệm cơ bản của đề tài. Khái niệm quản lý.
Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất và lâu đời nhất của con ngƣời. Nó phát triển không ngừng theo sự phát triển của xã hội. Lý luận về quản lý vì vậy đƣợc hình thành và phát triển qua các thời kì và trong các lý luận về chính trị, kinh tế - xã hội.Taylor phát biểu nguyên lý về quản lý thì quản lý nhanh chóng phát triển thành một ngành khoa học. Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý tùy thuộc vào các cách tiếp cận, góc độ nghiên cứu và hoàn cảnh xã hội, kinh tế, chính trị.
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mĩ Lộc quan niệm “Khi bàn đến hoạt động quản lý và ngƣời quản lý, cần bắt đầu từ khái niệm “Tổ chức”. Do tính đa nghĩa của thuật ngữ này nên ở đây ta chỉ đề cập đến “tổ chức” nhƣ một nhóm có cấu trúc nhất định những con ngƣời cùng hoạt động vì một mục đích chung nào đó, mà để đạt đƣợc mục đích đó, một con ngƣời riêng lẻ không thể nào đạt đến” [4,tr. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Với ý nghĩa nhƣ vậy, đã có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý có thể dẫn ra nhƣ sau: - Quản lý: “là một quá trình tác động có định hƣớng (có chủ đích), có tổ chức, lựa chọn trong số tác động có thể dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tƣợng và môi trƣờng, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tƣợng đƣợc ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định” [15,tr. - “ Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hƣớng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hƣớng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với qui luật khách quan” [34,tr.
- “ Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những ngƣời lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện đƣợc những mục tiêu dự kiến” [24, tr. - “ Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [4, tr. Nhƣ vậy quản lý là hoạt động vốn có của xã hội ở bất kỳ trình độ phát triển nào của nó. Quản lý có thể hiểu đó là sự tác động có mục đích đến tập thể những con ngƣời để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động.
Nói một cách cụ thể hơn, quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều ngƣời sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội. Bản chất hoạt động quản lý là làm cho hệ thống vận hành theo mục tiêu đặt ra tiến dần trạng thái đến chất lƣợng mới. Thuật ngữ “quản lý” (tiếng Việt gốc Hán) đã lột tả đƣợc bản chất hoạt động này trong thực tiễn. Nó gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đƣa hệ vào thế “phát triển” [1, tr.
Nhƣ vậy, dù quan niệm thế nào chăng nữa, về tổng quan có thể xem quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hƣởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt tới một mục tiêu chung. Và do đó, quản lý là một khoa học và là một nghệ thuật bởi các hoạt động quản lý là có tổ chức, có định hƣớng dựa trên những qui luật, những nguyên tắc, phƣơng pháp cụ thể, đƣợc vận dụng một cách mềm dẻo, linh hoạt và sáng tạo tuỳ vào từng điều kiện cụ thể, khác nhau của đời sống xã hội. Phó Giáo sƣ, Tiến sĩ Đặng Quốc Bảo trong bài Tổng quan về tổ chức quản lý đã viết: “ Quản 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lý nhằm tới chất lƣợng tổng thể và hiệu quả bền vững, thích ứng với sự thay đổi. đòi hỏi nhà tổ chức, nhà quản lý vừa biết “làm việc đúng” và biết làm “đúng việc” theo chức trách, bổn phận của mình.
Suy nghĩ và hành động của nhà tổ chức, nhà quản lý không phải là tổ hợp của “trái tim nóng, cái đầu nóng”, cũng không phải là tổ hợp của “trái tim lạnh, cái đầu lạnh”, càng không phải là “trái tim lạnh, cái đầu nóng”, mà phải là “ cái đầu lạnh và trái tim hồng”. Quản lý có bốn chức năng cơ bản (kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra) có mối quan hệ khăng khít, tác động qua lại lẫn nhau tạo nên nội dung của công tác quản lý, mặt khác, quản lý cũng có ba hoạt động đảm bảo cho việc thực hiện tốt nội dung quản lý. Tác giả Đặng Quốc Bảo đã mô hình hoá 4 nội dung (chức năng) của quản lý (4N) và 3 hành động (3H) gắn kết với 4 chức năng của công tác quản lý bằng mô hình sau: Điều chỉnh 4 N bao gồm: *Kế hoạch *Tổ chức *Chỉ đạo Kế hoạch *Kiểm tra Kiểm Tổ 3 H bao gồm: N/H tra chức * Ra quyết định đúng đắn Chỉ đạo * Xử lý thông tin chính xác Quyết định Thông tin * Thực hiện điều chỉnh kịp thời Giữa 4N và 3H có mối quan hệ tác động gắn bó với nhau, các chức năng của quản lý chỉ đƣợc thực hiện một cách có hiệu quả khi ngƣời quản lý phải biết: ra quyết định và quyết định đƣa ra phải đảm bảo chính xác và kịp thời; phải biết điều chỉnh các hoạt động sao cho phù hợp với diễn biến của tình hình thực tế và cuối cùng ngƣời quản lý phải cần có thông tin chính xác, thông tin chính là năng lƣợng của quản lý.