CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Phát triển nhảy vọt của khoa học công nghệ (KH – CN), sự phát triển kinh tế tri thức trên toàn cầu tạo ra nhu cầu, cơ hội và điều kiện để phát triển giáo dục đại học (GDĐH) cả về quy mô và chất lượng. Toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế tạo điều kiện tăng cường hợp tác để học tập, chia sẻ kinh nghiệm, chuyển giao và tiếp nhận công nghệ đào tạo tiên tiến.
Sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin và truyền thông tạo điều kiện rất thuận lợi để tìm kiếm, trao đổi, xử lý thông tin phục vụ dạy, học, nghiên cứu. Bối cảnh quốc tế sẽ đòi hỏi các quốc gia đang phát triển phải sớm đại chúng hoá, kinh tế hoá, hiện đại hoá (HĐH) và quốc tế hoá GDĐH. Để đáp ứng tốt hơn, nhanh hơn các yêu cầu của toàn cầu hoá, phát triển KH - CN, kinh tế tri thức, nhiệm vụ quan trọng của các trường đại học cao đẳng là đào tạo đội ngũ lao động chất lượng cao để cung cấp cho thị trường lao động. Muốn thực hiện được nhiệm vụ đó, yếu tố cơ bản nhất, có tính quyết định là chất lượng của đội ngũ cán bộ, giảng viên của các trường đại học, cao đẳng.
Cùng với quá trình phát triển về mọi mặt của đời sống KT- XH, hệ thống giáo dục của các nước luôn luôn được các quốc gia quan tâm phát triển và hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về nâng cao trình độ dân trí, phát triển nguồn nhân lực và nhu cầu phát triển giáo dục của các tầng lớp dân cư, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay và sự phát triển mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hoá và sự ra đời của nền tri thức ở tất cả nước trên thế giới, bất luận là nước giàu hay nước nghèo, Châu Á hay châu Âu, ĐNGV có vai trò quyết định đến yêu cầu nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tài và qua đó nâng cao vị thế và trình độ phát triển của mỗi quốc gia. Sau đây là kinh nghiệm và thành tựu phát triển GD $ ĐT một số nước trên thế giới. Pháp ( Châu Âu ) Nước đặt sự nhấn mạnh đầu tiên ở cá nhân con người hoàn thiện mạnh về mặt tinh thần trí tuệ con người chân chính, được coi là mực thước cho mọi sự vật và có thể đương đầu với mọi thách thức, thông qua sự giáo dục của bản thân từ một nền văn hoá phổ thông. Chiến lược giáo dục của Pháp từ nhiều năm qua là, trước hết mở rộng nhanh chóng giáo dục sử học để mọi người biết chữ đều có thể duy trì thực sự và có một hiểu biết cơ sở về cuộc sống ( văn hoá phổ thông); đòi hỏi chú trọng về giáo dục, trong học tập có sự ganh đua ở mức độ cao để chọn những người thực sự có tài năng có một cơ hội tuyển vào để có thể tận dụng cơ hội của mình.
Để thực hiện chiến lược giáo dục có hiệu quả này, Pháp chú trọng đến việc đào tạo, phát triển đội ngũ giáo viên. Đào tạo giáo viên đại học được coi như thuộc giai đoạn III của đào tạo đại học. Giáo viên phải có bằng tiến sĩ mới được phát chức giáo sư. Trong một số ngành học việc lựa chọn giáo viên đại học phụ thuộc vào kết quả kỳ thi tuyển lấy chứng chỉ dạy đại học.
Nhật Bản ( Châu Á ) Chiến lược giáo dục và phong cách quốc gia của Nhật là mô hình của sự giao lưu văn hoá có tính độc lập và thông minh. Đào tạo sư phạm được đảm bảo ở trình độ đại học, giáo viên dạy ở trường mẫu giáo, tiểu học, trung học được đào tạo trong các trường đại học chủ yếu theo các Chương trình đào tạo sư phạm, kéo dài bốn năm, tổ chức tại các trường đại học quốc gia; một bộ phận giáo viên được đào tạo theo chương trình 2- 4 năm, tổ chức ở một số trường tư thục và phụ thuộc vào chính quyền địa phương. Ở Nhật có nhiều cơ sở đào tạo sư phạm ở trình độ sau đại học và các khoá học hàm thụ buổi tối ở các trường đại học và cao đẳng. Hầu như tất cả các chương trình dẫn đến văn bằng đại học.
Mục tiêu của các khoá học này 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho phép thanh niên đã hoạt động nghề nghiệp được đào tạo đại học. Về nguyên tắc, các khoá học buổi tối và hàm thụ được coi là tương đương các khoá học chính quy. Thiết lập hệ thống giáo dục mềm dẻo nhờ có sự phát triển giáo viên đáp ứng nhu cầu mới cảu công nghệ, tác dụng tích cực của giáo viên thỉnh giảng từ các cơ sở dạy nghề tư nhân. Việc học tại chức không thoát ly hoạt động nghề nghiệp, các khoá học buổi tối và hàm thụ rất được chú trọng.
Hoa Kỳ (Châu Mỹ ) Người Hoa Kỳ với ba nét đặc trưng nổi bật “Lý tưởng, năng động, năng suất cao”. Bản chất của sự phát triển và phong cách quốc gia được bộc lộ trong giáo dục. Các trường đào tạo giáo viên (teacher colleges), các trường sư phạm ban đầu thường phát triển từ các trường Cao đẳng khoa học xã hội và nhân văn hay trường Cao đẳng của bang thậm chí từ các trường đại học đa ngành. Mặt khác một số trường dạy văn học và khoa học đã tổ chức các chương trình đào tạo về sư phạm.
Xu hướng trong lĩnh vực này là mở rộng đào tạo cơ bản cho các giáo viên tương lai. Việc đào tạo giáo viên tiểu học cũng như trung học được tiến hành ở nhiều bang của Hoa Kỳ, kéo dài 5 năm đại học. Gần như toàn bộ giáo viên dạy cao trung và đa số giáo viên dạy sơ trung trên thực tế là người có văn bằng đại học đầu tiên là cử nhân, chỉ một tỷ lệ nhỏ có văn bằng thứ hai. Hiện nay, Hoa Kỳ có khoảng 700000 giáo viên đang công tác tại các cơ sở giáo dục đại học.
Nhìn chung, giáo viên có trình độ cao, đảm bảo công việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, để phát triển đội ngũ giáo viên trong thế kỷ 21, Hoa Kỳ cho rằng các vấn đề sau cần được thận trọng trong xem xét: - Chất lượng giáo viên đang có xu hướng giảm sút do nhiều sinh viên suất sắc sau khi tốt nghiệp không thích làm công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học mà muốn công tác ở các ngành nghề khác. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Một số ngành học phải cạnh tranh với mức lương cao hơn ở bên ngoài có thể không đủ giáo viên chuyên trách, như vậy các cơ sở đào tạo phải thuê thêm giáo viên kinh nghiệm hoặc thỉnh giảng. - Các trường đại học và cao đẳng quan tâm một loạt vấn đề khác có tác động đến đời sống của giáo viên nhằm thu hút những giáo viên có trình độ cao để có thể cạnh tranh trong xã hội hiện đại.
- Thay thế giáo viên cũ và phát triển đội ngũ giáo viên có chất lượng. Toàn cầu hoá là xu thế tất yếu và cũng là cơ hội để Việt Nam hội nhập, để giáo dục Việt Nam làm bạn với giáo dục các nước trên thế giới. Trên sân chơi quốc tế chúng ta vừa phải nhập cuộc vừa phải tỉnh táo biết mình là ai, để không thu mình lại nhưng cũng không bắt chước rập khuôn vội vã. Làm thế nào để tiếp nhận và lớn lên qua làn sóng toàn cầu hoá.
Đó là thách thức đối với giáo dục, trước hết là thách thức đối với những người có trách nhiệm lãnh đạo, các nhà quản lý giáo dục hiện nay. Ở Việt Nam Đảng và Nhà nước ta luôn chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục, “đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển” bằng hàng loạt chủ trương, chính sách: - Tháng 8/ 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cuộc cách mạng tháng Tám thành công. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà- Nhà nước cách mạng non trẻ ra đời đã phải tiếp quản di sản nền giáo dục đô hộ sau hơn 80 năm Pháp thuộc với nhiều khó khăn chồng chất: Ngân khố trống rỗng, sự khác biệt trong chế độ giáo dục, hệ thống giáo dục giữa các vùng miền, đại bộ phận dân chúng thất học với hơn 95 % dân số mù chữ. Để khắc phục hậu quả trên, trong sắc lệnh số 146/SL ngày 10/8/1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Xây dựng nền giáo dục mới, nền giáo dục cách mạng với ba nguyên tắc căn bản đó là: đại chúng – dân tộc – khoa học” 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Ngày 19/12/1946 cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, đặt ra cho giáo dục nước ta những nhiệm vụ mới, trong đó vừa phục vụ kháng chiến vừa góp phần vào công cuộc kiến quốc.
- Song song với việc tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp, nhận thấy nhu cầu chuyển đổi cơ cấu hệ thống giáo dục, để phù hợp với cuộc kháng chiến. Trên cơ sở cơ cấu lại hệ thống của nền giáo dục quốc dân bao gồm ba bộ phận: Phổ thông – bổ túc văn hoá - chuyên nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ vừa kháng chiến vừa sản xuất và xây dựng đất nước. Trong đó chú trọng bổ túc văn hoá để xoá nạn mùa chữ. - Năm 1954, hoà bình lặp lại ở miền Bắc, đứng trước nhu cầu thống nhất hệ giáo dục, tháng 3/1956, đại hội giáo dục phổ thông toàn miền Bắc đã họp thông qua đề án Hệ thống giáo dục mới hệ 10 năm đã được Thủ tướng chính phủ ký ban hành.
- Trước đổi mới (1975 – 1985), sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, tháng 11/1979, Bộ chính trị thông qua nghị quyết 14 về vấn đề cải cách giáo dục xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân mới thống nhất trong cả nước với đầy đủ các bậc học: + Giáo dục mầm non: Nhà trẻ, mẫu giáo. + Giáo dục phổ thông: Tiểu học, THCS, Trường đào tạo nghề. + Giáo dục chuyên nghiệp: THCN, Trường đào tạo nghề. + Giáo dục đại học: Cao đẳng, Đại học, Sau đại học.
+ Giáo dục thường xuyên. - Sau đổi mới(1986 – nay), cùng với công cuôc đổi mới toàn diện nền kinh tế xã hội, năm 1986, Đảng ta có chỉ đạo đối với ngành Giáo dục và Đào tạo thực hiện những bước đổi mới trong hệ thống giáo dục quốc dân.