phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Khoá luận bao gồm 3 chƣơng:” Chƣơng 1: Một số lý luận cơ bản về bồi dƣỡng ý thức“tự học cho sinh viên các trƣờng đại học.” Chƣơng 2: Thực trạng“tự học của sinh viên trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2 hiện nay và nguyên nhân của thực trạng.” Chƣơng 3: Một số“biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả bồi dƣỡng ý thức tự học cho sinh viên trƣờng Đại học Sƣ Phạm Hà Nội 2 hiện nay.” 5 Chƣơng 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BỒI DƢỠNG Ý THỨC TỰ HỌC CHO SINH VIÊN CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm Ý thức Chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo cho rằng: “Ý thức có một cuộc sống riêng, tồn tại tách biệt vật chất thậm chí quy định, sinh ra vật chất.” Chủ nghĩa duy vật cận đại đã thấy đƣợc: “Ý thức phản ánh thế giới khách quan, đã chỉ ra đƣợc kết cấu của ý thức song lại chƣa thấy đƣợc nguồn gốc xã hội và vai trò xã hội của ý thức.” Chủ“nghĩa duy vật biện chứng khẳng định:”“Ý thức là đặc tính và sản phẩm của vật chất, ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con ngƣời thông qua lao động và ngôn ngữ.” Theo triết học Mác-Lênin "Ý thức là sự phản ánh sáng tạo của thế giới khách quan vào bộ não của ngƣời thông qua lao động ngôn ngữ”.“Nói về vấn đề này Mác nhấn mạnh: tinh thần, ý thức chẳng qua nó chỉ là cái vật chất di chuyển vào bộ óc con ngƣời và đƣợc cải biến đi trong đó.” Tóm lại,“ý thức bao gồm những yếu tố tri thức và những yếu tố tình cảm, ý chí trong sự liên hệ tác động qua lại nhƣng về căn bản ý thức có nội dung tri thức và luôn hƣớng tới tri thức.” Theo chiều ngang,“ý thức bao gồm các yếu tố cấu thành nhƣ tri thức, tình cảm niềm tin, lý trí….trong đó tri thức là yếu tố cơ bản, cốt lõi.” Tri thức là“kết quả của quá trình nhận thức của con ngƣời về thế giới hiện thực, làm tái hiện trong tƣ tƣởng những thuộc tính, những quy luật của thế giới và diễn đạt chúng dƣới hình thức ngôn ngữ hoặc các hệ thống ký hiệu khác.” Ngày nay,“vai trò động lực của tri thức với sự phát triển kinh tế, xã hội trở nên rõ ràng, nổi bật. Loài ngƣời đang bƣớc vào nền kinh tế tri thức, là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra”tri thức giữ vai trò quyết định.“Trong nền kinh tế tri thức, đa số các ngành 6 kinh tế dựa vào tri thức, dựa vào thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ, vì vậy đầu tƣ vào tri thức là yếu tố then chốt cho sự tăng trƣởng kinh tế dài hạn.” Nhấn mạnh yếu tố“tri thức là yếu tố cơ bản nhất của ý thức giúp chúng ta tránh đƣợc quan điểm giản đơn coi tri thức những yếu tố tình cảm,”niềm tin… ý thức mà không bao hàm tri thức, không dựa vào tri thức thì đó là hiện tƣợng trừ tƣợng trống rỗng, không giúp gì cho con ngƣời trong hoạt động thực tiễn.
Tình cảm“là sự cảm động của con ngƣời trong quan hệ của mình với thực tế xung quanh và đối với bản thân mình. Tình cảm là một thái độ đặc biệt của sự phản ánh thực tại, nó phản ánh quan hệ của con ngƣời đối với nhau, cũng nhƣ đối với thế giới khách quan. Tình cảm tham gia vào mọi hoạt động của con ngƣời và giữ một vị trí quan trọng trong việc điều chỉnh hoạt động của con ngƣời. Tình cảm có thể mang tính chất chủ động, chứa đựng sắc thái tình cảm tích cực,”hoặc thụ động chứa sắc thái tiêu cực.
Ý chí“đƣợc coi là mặt năng động của ý thức, một biểu hiện của ý thức trong thực tiễn mà ở đó con ngƣời tự giác đƣợc mục đích của hoạt động nên tự đấu tranh với mình để thực hiện đến cùng mục đích đã lựa chọn. Có thể coi ý chí là quyền lực của con ngƣời đối với mình; nó điều khiển, điều chỉnh hành vi để con ngƣời hƣớng đến mục đích một cách tự giác; nó cho phép con ngƣời tự kìm chế, tự làm chủ bản thân và quyết đoán trong hành động theo quan điểm và niềm tin của mình.”Lênin cho rằng: “Ý chí là một trong những yếu tố tạo nên sự nghiệp cách mạng của hàng triệu ngƣời trong cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt nhằm giải phóng mình, giải phóng nhân loại. Khái niệm Tự học Có rất nhiều tác giả“nghiên cứu về tự học, mỗi tác giả có những”quan điểm khác nhau, sau đây là một số các quan điểm. Nhà tâm lý học N.A Rubakin cho rằng: “Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối liên hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài ngƣời thành vốn tri thức, kinh nghiệm kỹ năng, kỹ xảo của bản thân chủ thể.” [13, 35] 7 Theo Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là động não, suy nghĩ, sử dụng năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích…) và có khi cả cơ bắp (khi sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của chính bản thân ngƣời học (tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học) cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [19, 80] Tác giả Lƣu Xuân Mới cho rằng: “Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính sinh viên tiến hành trên lớp, ở ngoài lớp theo hoặc không theo chƣơng trình và sách giáo khoa đã quy định.
Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học có tính độc lập cao và mang đậm nét sắc thái cá nhân nhƣ có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học” [11, 276] Theo Giáo sƣ Đặng Vũ Hoạt và Phó giáo sƣ Hà Thị Đức trong cuốn “Lý luận dạy học đại học” thì “Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học. Đó là một hình thức nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính ngƣời học tự tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chƣơng trình và sách giáo khoa đã đƣợc qui định”. Trong cuốn “Học tập hợp lí” R.Retke chủ biên, coi “Tự học là việc hoàn thành các nhiệm vụ khác không nằm trong các lần tổ chức giảng dạy” Từ“những quan điểm nêu trên, tôi đi đến định nghĩa về tự học nhƣ sau:” “Tự học là một quá trình hoạt động nhận thức của mỗi người, là một trong những nhân tố quyết định hiệu quả chất lượng chiếm lĩnh tri thức của loài người để phát triển nhân cách. Tự học đòi hỏi một sự nỗ lực, tự giác, kiên trì sáng tạo về phương pháp hình thức phù hợp với điều kiện, khả năng và mục tiêu đặt ra.
Khái niệm Ý thức tự học Ý thứ tự học là ý thức tự rèn luyện tích cực để tiếp nhận kiến thức và củng cố kĩ năng cho bản thân, là một việc làm khó khăn, cần ý chí phấn đấu và sự kiên trì. “Ý thức tự học là khả năng hình thành thái độ, động cơ và mục đích học tập một cách tự giác, chủ động; tự đặt đƣợc mục tiêu học tập để đòi hỏi sự nỗ lực phấn 8 đấu thực hiện; thực hiện các phƣơng pháp học tập hiệu quả; điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân khi thực hiện các nhiệm vụ học tập thông qua tự đánh giá hoặc lời góp ý của giáo viên, bạn bè; chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp khó khăn trong học tập”. Khái niệm Bồi dưỡng Khái“niệm bồi dƣỡng đƣợc nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu và đƣa ra nhiều định nghĩa khác nhau:” Theo Đại Từ điển Tiếng Việt cho rằng: “Bồi dƣỡng là làm cho khỏe thêm, mạnh thêm”. UNESCO định nghĩa: “Bồi dƣỡng có ý nghĩa nâng cao trình độ nghề nghiệp.
Quá trình này diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp”. Bồi“dƣỡng theo nghĩa rộng là quá trình giáo dục, đào tạo nhằm hình thành nhân cách và những phẩm chất riêng biệt của nhân cách theo định hƣớng mục đích đã chọn.” Tóm“lại, bồi dƣỡng là bổ sung, cung cấp thêm những thiếu hụt về tri thức, cập nhật thêm cái mới trên cơ sở những cái cũ đã có nhằm mở mang có hệ thống những tri thức, kỹ năng, nghiệp vụ, làm giàu vốn hiểu biết, nâng cao hiệu quả trong quá trình lao động. Khái niệm Sinh viên Thuật“ngữ “sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng La - tinh “Student” có nghĩa là ngƣời làm việc, học tập nhiệt tình, ngƣời đi tìm kiếm, khai thác tri thức. Nó đƣợc dùng cùng nghĩa tƣơng đƣơng với từ “Student” trong tiếng Anh và “Etudiant” trong tiếng Pháp.
“Sinh viên” là để chỉ những ngƣời theo học ở bậc đại học và phân biệt với học sinh đang theo học ở bậc phổ thông. Theo ngôn ngữ Hán Việt, từ “sinh viên” đƣợc diễn nghĩa ra là ngƣời bƣớc vào cuộc sống, cuộc đời. Còn theo từ điển tiếng Việt, khái niệm “sinh viên” đƣợc dùng để chỉ ngƣời học ở bậc đại học. Theo quy chế công tác Học sinh - Sinh viên trong các trƣờng đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo th씓sinh viên là ngƣời đang theo học hệ đại học và cao đẳng”.
9 Sinh viên, sau khi ra trƣờng, họ trở thành những lao động đã đƣợc qua đào tạo ở các cấp bậc; do vậy, họ có nhu cầu tìm đƣợc việc làm“phù hợp với trình độ chuyên môn và có thu nhập tƣơng xứng với trình độ”đó. Nội dung ý thức tự học của sinh viên 1. Người học phải có kiến thức“về các phương pháp tự học và các hình thức tự học” 1. Người học phải có kiến thức về các phương pháp tự học *Người học cần trang bị nền tảng kiến thức nhất định Tự học là“khả năng nhận thức của bản thân ngƣời học nhằm lĩnh hội tri thức ở một lĩnh vực nào đó của nhân loại, thực chất đây là quá trình cá nhân tự tƣ duy trên cơ sở phát huy mọi năng lực, phẩm chất vốn có của mình để đạt đƣợc mục tiêu nào đó trong học tập, nghiên cứu.