CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu về các đặc điểm cá nhân của giám đốc điều hành (CEO’s characteristic) Nghiên cứu của tác giả Norbum (1989) đã cung cấp thông tin liên quan đến các đặc điểm khác nhau của CEO và chỉ ra tầm quan trọng/ảnh hưởng quan trọng của chúng đến phong cách và thói quen điều hành. Kesner và Sebore (1994) cũng chỉ ra rằng, việc lựa chọn CEO là một quyết định quan trọng của tổ chức, có ý nghĩa quan trọng đối với hiệu quả hoạt động của công ty. Một nghiên cứu khác của Pfeffer và Salancik (1978) đã kết luận trong nghiên cứu của họ rằng hầu hết các công ty trong bối cảnh khác nhau tuyển dụng và thuê CEO với nền tảng và kỹ năng phù hợp với nền tảng của công ty.
Điều này chỉ ra mối quan hệ ảnh hưởng thuận chiều giữa các đặc điểm của công ty với đặc điểm cá nhân của CEO. Hay nói cách khác các đặc điểm cá nhân của CEO có sự tương đồng và ảnh hưởng qua lại mạnh mẽ đối với đặc điểm công ty. Tương quan trên một lần nữa tái khẳng định những ảnh hưởng của đặc điểm cá nhân của CEO đến phong cách và thói quen điều hành. Theo mạch nghiên cứu về vai trò, ảnh hưởng các đặc điểm cá nhân của CEO đến phong cách và thói quen điều hành.
Các nghiên cứu được triển khai vào đầu những năm 1990 đã đưa ra kết luận rằng các CEO có trình độ học vấn cao và nền tảng chức năng kỹ thuật có nhiều khả năng có một chương trình nghiên cứu và phát triển chuyên sâu. Trong hướng nghiên cứu này, chỉ tiêu về năng lực ứng dụng CNTT vào tổ chức được lựa chọn như một chỉ tiêu nền tảng để đánh giá. Các công ty có chi phí nghiên cứu và phát triển cao có nhiều khả năng lựa chọn các CEO mới có kinh nghiệm kỹ thuật. Bởi họ sẽ quen thuộc và hiểu biết hơn về nền tảng của công ty.
Hơn nữa, các cá nhân được đào tạo và giáo dục tiên tiến có liên quan đến chi phí nghiên cứu và phát triển cao hơn (Datta và Guthrie, 1994). Thong và Yap (1995) đồng ý với quan điểm này và nhận thấy rằng các doanh nghiệp nhỏ có nhiều khả năng áp dụng công nghệ thông tin (CNTT) mới khi CEO có tính cách sáng tạo, tích cực đối với việc áp dụng CNTT và có kiến thức CNTT lớn hơn. Các CEO trẻ tuổi có xu hướng chi nhiều hơn cho nghiên cứu và phát triển khi họ có nhiều của cải đầu tư vào cổ phiếu công ty và có kinh nghiệm nghề nghiệp quan trọng trong tiếp thị và kỹ thuật. 12 Bên cạnh việc áp dụng CNTT, các đặc điểm của CEO được chỉ ra còn ảnh hưởng đến hàng loạt các mảng hoạt động khác của công ty.
Herrmann và Datta (2002) đã tìm thấy những đặc điểm cá nhân có ảnh hưởng đến phương pháp và cách thức điều hành hoạt động của CEO. Nhìn chung, các tác động trên thường được bộc lộ thông qua 4 mảng hoạt động chính của doanh nghiệp: quy trình kinh doanh, cách thức tổ chức hoạt động, hoạt động liên doanh liên kết, và khâu quản lý các đơn vị nhanh/công ty con trực thuộc. Ở 2 nhóm nhân tố chịu tác động đầu tiên, quy trình kinh doanh và cách thức tổ chức hoạt động (về cơ bản không dựa trên cơ cấu vốn chủ sở hữu) nên mức độ ảnh hưởng và rủi ro nhìn chung là có xu hướng thấp hơn so với hai nhóm nhân tố còn lại (đa phần có ảnh hưởng trực diện đến cơ cấu vốn chủ sở hữu) và sức ảnh hưởng của CEO. Đồng thời nghiên cứu trên cũng chỉ ra rằng, khi CEO đồng thời có thêm những quyền lực trong HĐQT thì sức ảnh hưởng và chi phối của họ đến hiệu quả hoạt động lại càng trở nên mạnh mẽ và rõ nét hơn.
Hơn nữa, tính hợp pháp trong vị trí của họ cùng với mức độ tự tin và kinh nghiệm cao hơn dẫn đến xu hướng kiểm soát quyền lực. Trong trường hợp này, các CEO thường có xu hướng tự tin rất cao vào phương pháp điều hành hoạt động kinh doanh của họ, không ngại chấp nhận rủi ro cao hơn để có lợi nhuận cao hơn. Các CEO có nền tảng học vấn, kinh nghiệm có nhiều khả năng có mong muốn kiểm soát và hiệu quả cao hơn, do đó cũng có xu hướng chuyên quyền hơn. Bên cạnh đó, kinh nghiệm và thâm niêm công tác cũng là những đặc điểm của CEO chi phối đến phong cách lãnh đạo và điều hành.
Ngoài ra, một số những đặc điểm tâm lý hành vi khác của CEO (ví dụ như sự tự tin) cũng được xét đến là một trong những yếu tố tác động đến phong cách và thói quen điều hành của CEO. Cụ thể, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, khi CEO quá tự tin có thể tác động tiêu cực đến hiệu suất công ty. Heaton (2002) phát hiện ra rằng các CEO thường có xu hướng lạc quan, đánh giá cao các dự án của công ty, do đó, khiến giá trị hiện tại ròng của doanh nghiệp bị tụt giảm do sự phân bổ đầu tư nhiều vào thì tương lai. Hơn nữa, họ tin rằng thị trường vốn đánh giá thấp các rủi ro từ giá cổ phiếu của công ty.
Tác giả Malmendier và Tate (2008) đồng ý với quan điểm này và kết luận từ nghiên cứu của họ rằng các CEO quá tự tin trả rất cao cho việc sáp nhập và mua lại, đặc biệt là nếu họ có quyền can thiệp vào vốn nội bộ. Lý do cho điều này là 13 họ đánh giá quá cao khả năng tạo ra lợi nhuận trong quá trình sáp nhập và mua lại. Do đó, họ thực hiện nhiều vụ sáp nhập và mua lại hơn mức cần thiết. Vì vậy, theo đề xuất của tác giả nghiên cứu, để giảm bớt những tác động kém tích cực của xu hướng quá tự tin ở CEO, có thể xem xét việc giảm các quyền can thiệp của giám đốc điều hành vào đồng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp.
Nhìn chung tất cả các hướng nghiên cứu đều chỉ ra rằng những đặc điểm cá nhân của CEO có tác động ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong cách và thói quen làm việc, điều hành, qua đó tác động đến kết quả triển khai công việc và các mặt hoạt động khác của doanh nghiệp. Hiện nay, vẫn còn tồn tài nhiều luồng quan điểm, cách tiếp cận khác nhau về các đặc điểm cá nhân của giám đốc điều hành (CEO’s characteristic), tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả có thể dẫn chiếu kết quả nghiên cứu của Hambrick và Mason (1984) làm nền tảng trong tiếp cận về đặc điểm cá nhân của CEO. Cụ thể, Hambrick và Mason, trong nghiên cứu của mình, đã bước đầu khẳng định rằng các hành vi của mỗi CEO là mặt phản ánh ra của một loạt các yếu tố đặc điểm cá nhân như: tuổi tác, trình độ học vấn, thâm niên công tác, đặc trưng tính cách. Các nhóm hành vi này tác động đến các quyết định của CEO trong quá trình điều hành doanh nghiệp, từ đó tác động đến các kết quả điều hành, các mặt hoạt động của doanh nghiệp.
2 tác giả đã phân chia các đặc điểm của CEO ra thành 02 nhóm chính được thể hiện tại bảng 1.1 của luận án, bao gồm: Bảng 1.1: Tổng hợp các đặc điểm của CEO theo Hambrick và Mason (1984) TT Nhóm đặc Mô tả chi tiết Đặc trưng điểm 1 Đặc điểm Tuổi, quốc tịch, giới Nhóm đặc điểm cơ bản, có ảnh nhân khẩu tính, quê quán, văn hưởng trực tiếp, mang tính nền học hoá môi trường sống, tảng đến hành vi của CEO. động đến khả năng nhận thức, tư duy, năng lực làm việc … 2 Đặc điểm Đặc thù ngành nghề, Ảnh hưởng nhiều bởi các nhân công tác lĩnh vực kinh doanh, tố khách quan, môi trường bên thâm niên công tác, ngoài, cho phép lí giải những kinh nghiệm quản lý, đặc trưng riêng của CEO trong tỷ lệ sở hữu cổ phần, từng ngành, lĩnh vực mà họ quyền kiêm nhiệm …. tham gia hoạt động. (Nguồn: Hambrick và Mason, 1984) 14 Có thể khẳng định rằng, nghiên cứu về các đặc điểm cá nhân của giám đốc điều hành là hướng nghiên cứu có thể đem lại nhiều kết quả khả thi, tích cực.
Bởi việc phân tích về các đặc điểm cá nhân giúp lí giải các kết quả hành vi bộc lộ trong điều hành doanh nghiệp của CEO, từ đó giúp đánh giá được tác động đến các khía cạnh khác nhau của hoạt động quản trị doanh nghiệp. Tình hình nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp từ lâu đã là một chủ đề được giới nghiên cứu quan tâm tìm hiểu bởi đây là thước đo nhằm đánh giá hiệu quả của các biện pháp và công cụ mà doanh nghiệp đã và đang sử dụng trong vận hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Đồng thời đây cũng là chỉ tiêu rất quan trọng đối với các bên liên quan như cổ đông, ban giám đốc, chủ nợ, nhà cung cấp, người tiêu thụ, v.v… trong việc ra quyết định kinh doanh hoặc đầu tư. Richard và Wei (2010) đã chỉ ra rằng việc xây dựng chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động của công ty (firm performance) có tầm quan trọng đáng kể, bởi giúp ý nghĩa trong việc phản ánh sự thay đổi trong hiệu qủa hoạt động của doanh nghiệp được xem là một nội dung nghiên cứu chưa bao giờ lỗi thời.
Nhóm tác giả cũng nhận định rằng khái niệm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp có thể được xem là một cấu trúc đa chiều gồm nhiều khía cạnh khác nhau như: hiệu quả kinh doanh, danh tiếng, cân bằng trong cơ cấu vận hành của doanh nghiệp và sự sống còn của tổ chức… Vì vậy, theo Hult và các cộng sự (2008) tuy phổ biến hiện nay có nhiều cách tiếp cận và đo lường khác nhau về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhưng tựu chung lại có ba tiêu chí đo lường hiệu quả hoạt động thường sử dụng là hiệu quả tài chính (financial performance), hiệu quả kinh doanh (operation performance) hoặc hiệu quả tổng hợp (overall performance). Tuy có nhiều cách tiếp cận và đo lường khác nhau về khái niệm trên nhưng một trong những khía cạnh được nghiên cứu và xem xét rộng rãi nhất là khía cạnh tài chính, tức thành quả của việc thực hiện các mục tiêu kinh tế của công ty. Đồng thời, đây cũng là khía cạnh được lựa chọn xem xét phân tích phổ biển bởi sự rõ ràng và cụ thể về mặt số liệu thể hiện.