Tổng quan luận án

Công trình "Ẩn dụ ý niệm trong các diễn ngôn chính trị (trên tư liệu tiếng Anh và tiếng Việt)" do nghiên cứu sinh Nguyễn Tiến Dũng thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Hồng Cổn, được bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2019, chuyên ngành Ngôn ngữ học (mã số: 9 22 90 20).

Dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận, ngôn ngữ là công cụ tri nhận của con người, trong đó ẩn dụ là phương tiện tri nhận tiêu biểu, có chức năng cấu trúc hóa tư duy và ngôn ngữ sử dụng. G. Lakoff (1993) nhận định rằng nếu thiếu hệ thống ẩn dụ, con người không thể triết lý hóa hay lý thuyết hóa mà chỉ có hiểu biết chung về đời sống. G. Lakoff và M. Johnson (1980) chỉ rõ ẩn dụ hiện diện khắp nơi trong ngôn ngữ, tư duy và hành động; G. Geary (2011) ghi nhận cứ 10 đến 20 từ nói ra có thể xuất hiện một ẩn dụ và con người sử dụng trung bình sáu ẩn dụ trong một phút. Trong khi các nghiên cứu ẩn dụ trong diễn ngôn chính trị (DNCT) trên thế giới đã phát triển sâu rộng, thì tại Việt Nam, các nghiên cứu ẩn dụ truyền thống chủ yếu tập trung vào thi ca, thành ngữ, hoặc một số phạm trù đời thường. Theo đánh giá của Lý Toàn Thắng (2005), các công trình nghiên cứu ẩn dụ theo quan điểm ý niệm ở Việt Nam còn hạn chế về số lượng và chưa đa dạng, đặc biệt là trong lĩnh vực DNCT. Luận án được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống này, làm sáng tỏ phương thức tri nhận của người bản ngữ tiếng Anh và tiếng Việt, hỗ trợ công tác nghiên cứu và giảng dạy ngoại ngữ.

Mục đích nghiên cứu của luận án là khảo sát việc sử dụng ẩn dụ ý niệm trong các DNCT tiếng Anh và tiếng Việt theo quan điểm ngôn ngữ học tri nhận, làm rõ đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa, tần suất, vai trò cùng những điểm tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ; từ đó đưa ra các kiến giải dựa trên mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tư duy.

Luận án đặt ra 4 câu hỏi nghiên cứu cụ thể:

  • i. Những loại ẩn dụ ý niệm nào được sử dụng trong các DNCT tiếng Anh và tiếng Việt? Các ẩn dụ ý niệm này có tần suất sử dụng như thế nào?
  • ii. Vai trò của các ẩn dụ ý niệm là gì khi được sử dụng trong các DNCT tiếng Anh và tiếng Việt?
  • iii. Các ẩn dụ ý niệm xuất hiện trong các DNCT tiếng Anh và tiếng Việt có những điểm tương đồng và dị biệt gì?
  • iv. Những điểm tương đồng và dị biệt (nếu có) sẽ được giải thích như thế nào thông qua mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tư duy?

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các ẩn dụ ý niệm được sử dụng trong một số DNCT của các nguyên thủ các nước nói tiếng Anh (Hoa Kỳ, Anh Quốc, Australia) và các nhà lãnh đạo chính trị của Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu gồm các bài viết và bài diễn thuyết chính trị từ thế kỷ XX đến nay.

Nguồn ngữ liệu khảo sát bao gồm:

  • Ngữ liệu tiếng Anh: Gồm 58 bài diễn văn (diễn văn nhậm chức, Thông điệp liên bang, diễn văn sự kiện 11/9/2001, sự kiện bức tường Berlin sụp đổ, diễn văn tranh cử và tuyên bố thắng cử) của các Tổng thống Hoa Kỳ trong 30 năm (Ronald Reagan, George H.W. Bush, Bill Clinton, George W. Bush, Barack Obama, Donald Trump); các bài diễn văn của các Thủ tướng Anh Quốc (Margaret Thatcher, Tony Blair, Gordon Brown, David Cameron) và các Thủ tướng Australia (Paul Keating, Bob Hawke, John Howard, Julia Gillard, Malcolm Turnbull, Scott Morrison). Tổng dung lượng của 58 văn bản tiếng Anh là 128 trang ngữ liệu.
  • Ngữ liệu tiếng Việt: Gồm 56 bài diễn văn của các nhà lãnh đạo chính trị Việt Nam từ năm 1945 đến nay, tiêu biểu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Lê Duẩn, Tổng Bí thư Trường Chinh, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch nước Trần Đại Quang. Tổng dung lượng của 56 văn bản tiếng Việt là 126 trang ngữ liệu.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại lịch sử nghiên cứu ẩn dụ qua hai khuynh hướng tiếp cận chính:

Khuynh hướng truyền thống: Khởi nguồn từ thời Cổ đại, Aristotle định nghĩa ẩn dụ là phương thức chuyển đổi tên gọi dựa trên sự so sánh ngầm giữa hai sự vật có điểm tương đồng. Trần Văn Cơ (2007) chỉ ra hai luồng quan điểm đối lập: các nhà triết học duy lý Anh như T. Hobbes (coi ẩn dụ là "đám ma trơi") và J. Locke (cho rằng ẩn dụ tạo ra tư tưởng ngụy tạo) xem nhẹ vai trò của ẩn dụ; ngược lại, trường phái lãng mạn và F. Nietzsche xem ẩn dụ là phương thức biểu hiện tư duy. Z. Kövecses (2002) nhận xét tu từ học truyền thống chỉ coi ẩn dụ là biện pháp nghệ thuật, phản xạ vô thức, chưa nhìn nhận ẩn dụ như một phương thức tư duy. Tại Việt Nam, các tác giả Đỗ Hữu Châu (1998) và Nguyễn Thiện Giáp (1996) cũng tiếp cận ẩn dụ dựa trên quan hệ tương đồng và chuyển đổi tên gọi.

Khuynh hướng ngôn ngữ học tri nhận: Phát triển từ công trình kinh điển "Metaphors we live by" của G. Lakoff và M. Johnson (1980), khẳng định hệ thống ý niệm thông thường mang bản chất ẩn dụ. Lakoff (1987) phát triển học thuyết "trí tuệ nghiệm thân" (embodied mind); J. Grady (1997) xác định kinh nghiệm cảm giác là cơ sở đưa ra đánh giá chủ quan; G. Lakoff và M. Turner (1989) nghiên cứu ẩn dụ trong thi ca; R. Gibbs (1994) chứng minh vai trò của ẩn dụ trong tâm lý học nhận thức. Tại Việt Nam, các học giả đã tiếp thu và phát triển lý thuyết này: Nguyễn Lai (1990) nghiên cứu từ chỉ hướng vận động theo giả thuyết nghiệm thân; Lý Toàn Thắng (2005) xác lập nguyên lý "Dĩ nhân vi trung" trong tri nhận không gian - thời gian; Nguyễn Văn Hiệp (2008) tiếp cận ngữ nghĩa cú pháp; Trần Văn Cơ (2009) tổng thuật lý thuyết ẩn dụ ý niệm; Phan Thế Hưng (2007) khẳng định bản chất xếp loại của ẩn dụ; cùng các công trình của Võ Kim Hà (2007), Hà Thanh Hải (2010), Ly Lan (2012), Trần Thị Phương Lý (2015), Nguyễn Thị Bích Hạnh (2015), Nguyễn Thị Bích Hợp (2016), Lê Thị Kiều Vân (2016), Nghiêm Hồng Vân (2013), Nguyễn Văn Hán (2007).

Nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị:

  • Quốc tế: G. Lakoff (1996) phân tích các ẩn dụ như QUỐC GIA LÀ MỘT GIA ĐÌNH, CHÍNH PHỦ LÀ CHA MẸ, CÔNG DÂN LÀ CON CÁI; Lakoff (1991, 2003) phân tích diễn ngôn Chiến tranh vùng Vịnh với miền nguồn CÂU CHUYỆN CỔ TÍCH. A. Vestermark (2007) khảo sát diễn văn nhậm chức của bốn Tổng thống Hoa Kỳ (R. Reagan, G.H. Bush, B. Clinton, G.W. Bush) với ẩn dụ QUỐC GIA LÀ MỘT CON NGƯỜI. H. Fadda (2007) nghiên cứu ẩn dụ CHIẾN TRANH NHƯ MỘT CÂU CHUYỆN CỔ TÍCH của G.W. Bush sau sự kiện 11/9. L. Arcimaviciene (2011) so sánh ẩn dụ thể thao, cờ bạc, đi săn tại Anh và Latvia. T. Carver và J. Pikalo (2008) tập hợp các nghiên cứu của D. Stenvoll (CHÍNH TRỊ LÀ VẬT LÝ), J. Pikalo (CÁ NHÂN LÀ HẠT NHÂN XÃ HỘI), E. Ringmar (NHÀ NƯỚC LÀ NHẠC TRƯỞNG / CỖ MÁY). K. Ahrens và S.Y.M. Lee (2009) phân tích mô hình NGƯỜI CHA GIÁO DƯỠNG và NGƯỜI CHA NGHIÊM KHẮC trong phát biểu của B. Obama, H. Clinton, J. McCain. Các nghiên cứu của O. Obasanjo (2004) và A. Abubakar (2006) tại Nigeria cũng ghi nhận ẩn dụ gia đình và hành trình.
  • Trong nước: Nguyễn Thị Như Ngọc (2011) khảo sát văn bản diễn thuyết chính trị Mỹ và dịch thuật với 14 miền nguồn và 4 nhóm miền đích. Nguyễn Tiến Dũng (2014, 2016, 2018) nghiên cứu ẩn dụ QUỐC GIA LÀ MỘT TÒA NHÀ, diễn ngôn chính trị tiếng Anh và diễn văn Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nguyễn Thị Bích Hạnh và Hồ Thị Thoa (2017) khảo sát ẩn dụ CHÍNH TRỊ LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH trên báo Nhân dân điện tử.

Vị trí của luận án: Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên tại Việt Nam tiến hành đối chiếu hai chiều các ẩn dụ ý niệm trong DNCT của các nước nói tiếng Anh và tiếng Việt trên cơ sở lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên nền tảng lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận và lý thuyết phân tích diễn ngôn:

Cơ sở lý thuyết:

  • Khoa học tri nhận và ngôn ngữ học tri nhận: Nghiên cứu ngôn ngữ dựa trên kinh nghiệm, tri giác và phương thức ý niệm hóa thế giới của con người (C. Fillmore, L. Talmy, G. Lakoff, R. Langacker, Lý Toàn Thắng, Trần Văn Cơ, Nguyễn Thiện Giáp, Triệu Diễm Phương). Lý Toàn Thắng (2005) phân định ba xu hướng tiếp cận: tiếp cận kinh nghiệm, tiếp cận yếu tố nổi trội, và tiếp cận mức độ thu hút sự chú ý.
  • Ý niệm và ý niệm hóa: Ý niệm là đơn vị của ý thức, phản ánh biểu tượng tinh thần về thế giới mang tính phổ quát và đặc thù văn hóa (Lý Toàn Thắng, R. Langacker, Nguyễn Đức Dân, Trần Trương Mỹ Dung). R. Langacker chỉ rõ ngữ nghĩa là sự ý niệm hóa, cấu trúc ý niệm gồm hình bóng ý niệm (figure) và hình nền ý niệm (ground/frame) (Hữu Đạt, 2001).
  • Ẩn dụ ý niệm và cơ chế ánh xạ: Ẩn dụ ý niệm là sự chiếu xạ từ miền nguồn (source domain) cụ thể sang miền đích (target domain) trừu tượng (J.R. Taylor, 1995; G. Lakoff & M. Johnson, 1980). Ánh xạ tuân thủ Nguyên tắc bất biến (Invariance Principle - Lakoff, 1990), theo đó cấu trúc lược đồ hình ảnh của miền nguồn được phóng chiếu nhất quán với cấu trúc cố hữu của miền đích.
  • Phân loại ẩn dụ ý niệm: Theo chức năng tri nhận (G. Lakoff & M. Johnson), gồm Ẩn dụ cấu trúc (structural metaphor), Ẩn dụ bản thể (ontological metaphor - tiêu biểu là ẩn dụ vật chứa), và Ẩn dụ định hướng (orientational metaphor - S.C. Levinson, Nguyễn Văn Trào). Về miền nguồn, luận án tổng hợp 16 miền nguồn (A. Deignan xác định 12 miền; Z. Kövecses bổ sung lực/sức mạnh; G. Lakoff bổ sung hành trình, chiến tranh; Nguyễn Thị Như Ngọc phát hiện giá trị kinh tế/tài chính) và quy gom thành 5 nhóm miền nguồn chính:
    1. Nhóm miền nguồn CƠ THỂ SỐNG (cơ thể con người, sức khỏe và bệnh tật).
    2. Nhóm miền nguồn HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI (thực phẩm và nấu nướng, xây dựng và nhà cửa, trò chơi và thể thao, chiến tranh và xung đột, hành trình, máy móc, xe cộ và công cụ).
    3. Nhóm miền nguồn KHÔNG GIAN (phương hướng và sự chuyển động).
    4. Nhóm miền nguồn MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN (động vật, thực vật, thời tiết, ánh sáng, bóng tối và màu sắc, độ nóng, độ lạnh và lửa, lực và sức mạnh của tự nhiên và vật chất).
    5. Nhóm miền nguồn KINH TẾ (giá trị kinh tế / tài chính).
  • Diễn ngôn và diễn ngôn chính trị: Thuật ngữ diễn ngôn được E. Buysen sử dụng từ năm 1943 (Diệp Quang Ban, 2003; Đỗ Hữu Châu, 2001; Nguyễn Thiện Giáp, 2000; Nguyễn Thanh Hải, 2009). DNCT do bối cảnh chính trị quy định, chủ thể là các tổ chức hoặc chính khách, nhằm chi phối người nghe và thực thi quyền lực thông qua sự thuyết phục (T. van Dijk, 1997; A. Beard, 2000; A. Vestermark, 2007; Nguyễn Thị Hương & Trần Thị Hoàng Anh, 2011; Nguyễn Xuân Hồng, 2006; Nguyễn Văn Khang, 2012). Ẩn dụ đóng vai trò tăng sức thuyết phục, cấu trúc lập luận và truyền đạt tư tưởng (J. Charteris-Black, 2005; A. Goatly, 1997; S. Lucas, 2001; R. Gibbs, 1994; F.S. Maestre, 2004; J. Zinken, 2003).

Phương pháp nghiên cứu:

  • Tiêu chí nhận diện ẩn dụ: Căn cứ vào dấu hiệu vi phạm phương châm Chất lượng (Quality Maxim) theo lý thuyết hội thoại của H.P. Grice (1975), thể hiện ở sự sai lệch phạm trù nghĩa đen của các từ ngữ trong ngữ cảnh văn bản.
  • Phương pháp miêu tả ngôn ngữ và phân tích ngữ nghĩa tri nhận: Miêu tả quá trình ý niệm hóa, phân loại theo miền nguồn, xác định tầng bậc thượng danh và hạ danh, phác họa mô hình tri nhận.
  • Phương pháp phân tích diễn ngôn: Đánh giá vai trò của ẩn dụ trong việc tạo lập quyền lực, chỉ đạo và điều hành xã hội.
  • Phương pháp so sánh đối chiếu: Thực hiện đối chiếu hai chiều giữa tiếng Anh và tiếng Việt nhằm chỉ ra nét tương đồng và dị biệt.
  • Thủ pháp thống kê và phân loại: Thống kê tần suất xuất hiện và phân nhóm các loại ẩn dụ phục vụ khảo sát định lượng và định tính.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các tiền đề lý luận và lịch sử nghiên cứu. Tác giả tổng thuật quá trình phát triển của lý thuyết ẩn dụ từ giác độ tu từ học cổ điển đến ngôn ngữ học tri nhận, phân tích các công trình nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong DNCT trong và ngoài nước. Chương này làm rõ các khái niệm công cụ: khoa học tri nhận, ý niệm, ý niệm hóa, mô hình hình bóng - hình nền, cơ chế ánh xạ theo Nguyên tắc bất biến. Tác giả phân loại ẩn dụ theo chức năng tri nhận thành 3 loại (cấu trúc, bản thể, định hướng), tổng hợp 16 miền nguồn và nhóm lại thành 5 nhóm lớn (CƠ THỂ SỐNG, HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI, KHÔNG GIAN, MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN, KINH TẾ). Chương 1 cũng xác lập bản chất của DNCT là loại hình diễn ngôn quyền lực, mang tính thuyết phục cao, trong đó ẩn dụ ý niệm là công cụ tri nhận và diễn ngôn chủ đạo.

Chương 2: Khảo sát ẩn dụ cấu trúc trong các diễn ngôn chính trị tiếng Anh và tiếng Việt

Mở đầu chương, tác giả thống kê tổng quát các loại ẩn dụ ý niệm trong hai khối ngữ liệu dựa trên dấu hiệu vi phạm phương châm Chất lượng của Grice:

Kiểu ẩn dụ DNCT tiếng Anh DNCT tiếng Việt
Ẩn dụ cấu trúc 17 (47,0%) 21 (38,8%)
Ẩn dụ bản thể 15 (42,0%) 29 (53,7%)
Ẩn dụ định hướng 4 (11,0%) 4 (7,5%)
Tổng số 36 (100%) 54 (100%)

Do ẩn dụ cấu trúc và bản thể chiếm tỷ lệ áp đảo (89,0% ở tiếng Anh và 92,5% ở tiếng Việt), luận án tập trung khảo sát hai loại này.

Nội dung khảo sát ẩn dụ cấu trúc trong DNCT tiếng Anh ghi nhận 17 ẩn dụ (5 thượng danh, 12 hạ danh) thuộc 2 nhóm miền nguồn:

  • Nhóm miền nguồn HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI gồm 3 ẩn dụ thượng danh:
    • CHÍNH TRỊ LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH (POLITICS AS A JOURNEY): Xuất hiện qua các biểu thức chỉ phương hướng, phương tiện di chuyển, chướng ngại vật (ví dụ Thomas Jefferson ví nước Mỹ như con thuyền, người lãnh đạo là thuyền trưởng; Ronald Reagan ví khó khăn kinh tế là chướng ngại vật trên đường đi; George W. Bush kêu gọi đồng hành trên con đường tiến bộ và công lý).
    • CHÍNH TRỊ LÀ XÂY DỰNG (Bảng 2.2).
    • CHÍNH TRỊ LÀ CHIẾN TRANH (Bảng 2.3).
  • Nhóm miền nguồn MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN gồm 2 ẩn dụ thượng danh:
    • CHÍNH TRỊ LÀ HIỆN TƯỢNG THỜI TIẾT (Bảng 2.4).
    • CHÍNH TRỊ LÀ ÁNH SÁNG VÀ BÓNG TỐI (Bảng 2.5).

Nội dung khảo sát ẩn dụ cấu trúc trong DNCT tiếng Việt ghi nhận 21 ẩn dụ cấu trúc thuộc 2 nhóm miền nguồn HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI và MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN, được phân tích qua các bảng thống kê tần suất:

  • Bảng 2.6: Thống kê lượt xuất hiện của ẩn dụ ý niệm CHÍNH TRỊ LÀ HÀNH TRÌNH.
  • Bảng 2.7: Thống kê lượt xuất hiện của ẩn dụ ý niệm CHÍNH TRỊ LÀ XÂY DỰNG.
  • Bảng 2.8: Thống kê lượt xuất hiện của ẩn dụ ý niệm CHIẾN TRANH LÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI.

Phần nhận xét chung đối chiếu Chương 2 chỉ ra sự tương đồng về việc cả hai ngôn ngữ đều sử dụng phổ biến các miền nguồn hành trình và xây dựng để cụ thể hóa các mục tiêu chính trị, đồng thời phân tích những nét khác biệt trong cách thức lựa chọn biểu thức ngôn ngữ xuất phát từ bối cảnh văn hóa và thể chế chính trị.

Chương 3: Khảo sát ẩn dụ bản thể trong các diễn ngôn chính trị tiếng Anh và tiếng Việt

Chương 3 khảo sát cơ chế "vật thể hóa" và "nhân cách hóa" các thực thể trừu tượng trong DNCT của hai ngôn ngữ.

Khảo sát trong DNCT tiếng Anh: Ghi nhận 15 ẩn dụ bản thể (tổng số biểu thức mở rộng là 18) thuộc 3 nhóm miền nguồn:

  • Miền nguồn HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI: Phân tích qua Bảng 3.1 (THẾ GIỚI LÀ MỘT CỘNG ĐỒNG), Bảng 3.2 (QUỐC GIA LÀ MỘT GIA ĐÌNH), Bảng 3.3 (CHÍNH QUYỀN LÀ CỖ MÁY).
  • Miền nguồn MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN: Phân tích qua Bảng 3.4 (CHÍNH TRỊ LÀ ĐỘNG THỰC VẬT).
  • Miền nguồn CƠ THỂ SỐNG: Khảo sát hiện tượng nhân cách hóa quốc gia và các hiện tượng chính trị.

Khảo sát trong DNCT tiếng Việt: Ghi nhận 29 ẩn dụ bản thể thuộc 3 nhóm miền nguồn, phân tích qua hệ thống bảng số liệu:

  • Bảng 3.5: Thống kê lượt xuất hiện của ẩn dụ ý niệm THẾ GIỚI LÀ MỘT CỘNG ĐỒNG.
  • Bảng 3.6: Thống kê lượt xuất hiện của ẩn dụ ý niệm QUỐC GIA LÀ MỘT GIA ĐÌNH.
  • Bảng 3.7: Thống kê lượt xuất hiện của ẩn dụ ý niệm CHÍNH QUYỀN LÀ CỖ MÁY.
  • Bảng 3.8: Thống kê lượt xuất hiện của ẩn dụ ý niệm CHÍNH TRỊ LÀ ĐỘNG THỰC VẬT.
  • Bảng 3.9: Thống kê lượt xuất hiện của ẩn dụ ý niệm QUỐC GIA LÀ CƠ THỂ SỐNG và CÁI XẤU LÀ VẾT THƯƠNG / BỆNH TẬT.

Phần nhận xét chung đối chiếu Chương 3 tổng kết các điểm tương đồng và dị biệt về ẩn dụ bản thể, giải thích cách thức các chính khách Việt Nam và các nước nói tiếng Anh sử dụng hình tượng cơ thể sống, gia đình và cỗ máy để tạo lập tính liên kết cộng đồng, hợp thức hóa quyền lực và định hướng xã hội.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học:

  • Là công trình đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu có hệ thống và đối chiếu ẩn dụ ý niệm trong DNCT của các nước nói tiếng Anh và tiếng Việt theo đường hướng ngôn ngữ học tri nhận.
  • Củng cố và kiểm chứng lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận, hệ thống hóa các vấn đề cơ bản của ẩn dụ ý niệm (khái niệm, biểu thức, ngữ nghĩa, ngữ dụng và cơ chế ánh xạ) trên ngữ liệu DNCT song ngữ.
  • Khẳng định tính hiệu quả của lý thuyết ẩn dụ ý niệm và ngôn ngữ học tri nhận trong phân tích văn bản và diễn ngôn chính trị.

Đóng góp về mặt thực tiễn và ứng dụng:

  • Cung cấp tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu ngôn ngữ, giảng viên và sinh viên chuyên ngành ngôn ngữ học.
  • Ứng dụng trực tiếp vào công tác biên - phiên dịch tài liệu chính trị tiếng Anh và tiếng Việt.
  • Phục vụ việc biên soạn, thiết kế tài liệu giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành chính trị, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ tại các trường đại học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Do tỷ lệ xuất hiện của ẩn dụ định hướng trong ngữ liệu khảo sát ở mức thấp (11,0% trong tiếng Anh và 7,5% trong tiếng Việt), luận án chỉ tập trung phân tích sâu hai loại ẩn dụ cấu trúc và ẩn dụ bản thể mà không đi sâu khảo sát chi tiết ẩn dụ định hướng.
  • Ngữ liệu nghiên cứu giới hạn trong phạm vi 58 bài diễn văn tiếng Anh của nguyên thủ Hoa Kỳ, Anh Quốc, Australia và 56 bài diễn văn tiếng Việt của các nhà lãnh đạo chính trị từ năm 1945 đến nay.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi ngữ liệu sang các thể loại diễn ngôn chính trị khác như văn bản nghị viện, tranh luận tranh cử, phỏng vấn báo chí chính trị.
  • Nghiên cứu sâu hơn về ẩn dụ định hướng và mở rộng đối chiếu đa chiều, liên ngành giữa ngôn ngữ học tri nhận với phân tích diễn ngôn phê phán và xã hội học chính trị.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ Anh, Việt ngữ học trong việc ứng dụng ngôn ngữ học tri nhận vào phân tích diễn ngôn.
  • Biên dịch viên, phiên dịch viên làm việc trong lĩnh vực ngoại giao, chính trị - xã hội cần nắm bắt cơ chế chuyển dịch ẩn dụ ý niệm giữa tiếng Anh và tiếng Việt.
  • Các phần đáng tham khảo trực tiếp gồm: Khung phân loại 16 miền nguồn thành 5 nhóm lớn; phương pháp nhận diện ẩn dụ dựa trên phương châm Chất lượng của H.P. Grice; hệ thống bảng thống kê đối chiếu tần suất xuất hiện của các miền nguồn ẩn dụ cấu trúc (Chương 2) và ẩn dụ bản thể (Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng tiêu chí ngôn ngữ học nào để nhận diện biểu thức ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị? Tác giả căn cứ vào dấu hiệu vi phạm phương châm Chất lượng (Quality Maxim) theo lý thuyết hội thoại của H.P. Grice (1975). Cụ thể, khi các từ ngữ xuất hiện sự sai lệch phạm trù nghĩa gốc (nghĩa đen) trong ngữ cảnh phát ngôn (ví dụ: dùng từ miêu tả con đường "rocky", "winding" để miêu tả sự nghiệp chính trị), dấu hiệu này xác nhận sự hiện diện của một biểu thức ẩn dụ ý niệm.

2. Tỷ lệ phân bố giữa ba kiểu ẩn dụ theo chức năng tri nhận trong ngữ liệu tiếng Anh và tiếng Việt được ghi nhận như thế nào? Trong DNCT tiếng Anh, ẩn dụ cấu trúc chiếm 47,0% (17 ẩn dụ), ẩn dụ bản thể chiếm 42,0% (15 ẩn dụ), ẩn dụ định hướng chiếm 11,0% (4 ẩn dụ). Trong DNCT tiếng Việt, ẩn dụ cấu trúc chiếm 38,8% (21 ẩn dụ), ẩn dụ bản thể chiếm 53,7% (29 ẩn dụ), ẩn dụ định hướng chiếm 7,5% (4 ẩn dụ). Tổng số ẩn dụ ý niệm nhận diện là 36 ở tiếng Anh và 54 ở tiếng Việt.

3. Luận án đã hệ thống hóa 16 miền nguồn thông dụng trong diễn ngôn chính trị thành những nhóm nào? Tác giả quy gom 16 miền nguồn thành 5 nhóm chính: (1) Nhóm CƠ THỂ SỐNG; (2) Nhóm HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI; (3) Nhóm KHÔNG GIAN; (4) Nhóm MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN; (5) Nhóm KINH TẾ.

4. Nguồn ngữ liệu diễn ngôn chính trị của luận án được thu thập từ những đối tượng cụ thể nào? Ngữ liệu gồm 58 bài diễn văn tiếng Anh (128 trang) của các Tổng thống Hoa Kỳ (Ronald Reagan, George H.W. Bush, Bill Clinton, George W. Bush, Barack Obama, Donald Trump), Thủ tướng Anh Quốc (Margaret Thatcher, Tony Blair, Gordon Brown, David Cameron), Thủ tướng Australia (Paul Keating, Bob Hawke, John Howard, Julia Gillard, Malcolm Turnbull, Scott Morrison); và 56 bài diễn văn tiếng Việt (126 trang) của các nhà lãnh đạo Việt Nam từ 1945 đến nay (Chủ tịch Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Xuân Phúc, Trần Đại Quang).

5. Các ẩn dụ ý niệm bản thể tiêu biểu nào được tác giả thống kê và phân tích ở Chương 3? Chương 3 phân tích các ẩn dụ bản thể tiêu biểu gồm: THẾ GIỚI LÀ MỘT CỘNG ĐỒNG, QUỐC GIA LÀ MỘT GIA ĐÌNH, CHÍNH QUYỀN LÀ CỖ MÁY, CHÍNH TRỊ LÀ ĐỘNG THỰC VẬT (ở cả hai ngôn ngữ) và QUỐC GIA LÀ CƠ THỂ SỐNG kết hợp CÁI XẤU LÀ VẾT THƯƠNG / BỆNH TẬT (trong tiếng Việt).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Tiến Dũng là công trình nghiên cứu hệ thống về ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị trên tư liệu đối chiếu tiếng Anh và tiếng Việt. Dựa trên khung lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận và tiêu chí nhận diện vi phạm phương châm Chất lượng của Grice, tác giả đã phân loại và khảo sát chi tiết các ẩn dụ cấu trúc và ẩn dụ bản thể qua 5 nhóm miền nguồn trên 114 văn bản diễn thuyết chính trị. Kết quả nghiên cứu làm rõ các mô hình tri nhận tương đồng và dị biệt giữa hai nền văn hóa, đóng góp tư liệu khoa học cho lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận, nghiên cứu diễn ngôn chính trị và công tác giảng dạy, biên - phiên dịch tiếng Anh chuyên ngành.