Tổng quan luận án
Công trình "Ẩn dụ cấu trúc trong các diễn ngôn chính trị tiếng Việt và tiếng Anh (trong mục Bình luận quốc tế của Báo Nhân dân điện tử và mục Opinion của The New York Times)" là luận án tiến sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu (mã số: 9222024), do nghiên cứu sinh Hồ Thị Thoa thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Văn Hiệp (Hà Nội, năm 2021).
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng từ cuối thế kỷ XX, ngôn ngữ học tri nhận phát triển đã chứng minh ngôn ngữ phản ánh cách thức con người tư duy và tri nhận thế giới khách quan. Trong đó, ẩn dụ ý niệm đóng vai trò như một phương thức nhận thức để trừu tượng hóa hiện thực xã hội. Diễn ngôn chính trị là loại diễn ngôn gắn liền với việc quản lý xã hội, nơi mối quan hệ giữa ngôn ngữ và hành động thể hiện rõ nét nhằm định hướng và thuyết phục người tiếp nhận. Mặc dù diễn ngôn chính trị chứa đựng mật độ ẩn dụ ý niệm phong phú, loại hình diễn ngôn này trước đây chưa nhận được sự quan tâm nghiên cứu tương xứng trong ngôn ngữ học tri nhận, đặc biệt là ở Việt Nam. Phần lớn các công trình trong nước mới tập trung khảo sát ẩn dụ ý niệm trong văn học, ca từ, thành ngữ hoặc diễn ngôn kinh tế, trong khi mảng diễn ngôn bình luận chính trị quốc tế trên báo chí định hướng dư luận vẫn còn nhiều khoảng trống về mặt lý luận lẫn thực nghiệm đối chiếu song ngữ.
Mục đích nghiên cứu của luận án là áp dụng lý thuyết ẩn dụ ý niệm, tập trung vào cơ chế ánh xạ và mô hình tri nhận, nhằm khảo sát việc sử dụng ẩn dụ cấu trúc trên cơ sở thống kê, miêu tả và phân tích các biểu thức ẩn dụ trong diễn ngôn chính trị tiếng Việt và tiếng Anh; từ đó xác định các điểm tương đồng, dị biệt giữa hai ngôn ngữ và lý giải nguyên nhân dựa trên đặc trưng tư duy và văn hóa dân tộc. Để đạt được mục đích này, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu ẩn dụ ý niệm có liên quan đến đề tài.
- Xác lập khung lí luận cần thiết về ngôn ngữ học tri nhận và các khái niệm có liên quan để triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu.
- Khảo sát ẩn dụ cấu trúc được sử dụng thế nào trong diễn ngôn chính trị tiếng Việt và tiếng Anh, làm rõ cơ chế ánh xạ giữa miền nguồn và miền đích trong các mô hình ẩn dụ.
- So sánh các ẩn dụ cấu trúc tìm được trong hai khối ngữ liệu diễn ngôn chính trị tiếng Việt và tiếng Anh nhằm tìm ra điểm tương đồng và dị biệt về đặc trưng tư duy giữa hai cộng đồng ngôn ngữ.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các biểu thức ẩn dụ cấu trúc trong diễn ngôn chính trị tiếng Việt và tiếng Anh. Về phạm vi nghiên cứu, dựa trên cách phân loại ba dạng thức ẩn dụ ý niệm của Lakoff (ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể, ẩn dụ định hướng), luận án giới hạn phạm vi vào ẩn dụ cấu trúc với hai miền đích xác định trước là "Chính trị" và "Quốc gia". Nguồn ngữ liệu nghiên cứu bao gồm 720 bài viết diễn ngôn chính trị, chia đều thành 360 bài tiếng Việt trích từ chuyên mục "Bình luận quốc tế" của Báo Nhân dân điện tử và 360 bài tiếng Anh trích từ mục "Opinion" của tờ The New York Times, được thu thập trong khoảng thời gian 3 năm (từ ngày 01/06/2016 đến ngày 30/06/2019). Tổng số lượt xuất hiện của ẩn dụ cấu trúc được ghi nhận trong toàn bộ ngữ liệu là 4.971 lượt, trong đó miền đích "Chính trị" có 2.145 lượt và miền đích "Quốc gia" có 2.826 lượt.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan tài liệu, tác giả hệ thống hóa các công trình nghiên cứu theo hai giai đoạn: hướng tiếp cận truyền thống và hướng tiếp cận ngôn ngữ học tri nhận, đồng thời phân tích cụ thể các nghiên cứu về diễn ngôn chính trị ở nước ngoài và trong nước.
Ở nước ngoài, theo quan điểm truyền thống, ẩn dụ được xem là biện pháp tu từ so sánh ngầm mang tính nghệ thuật, gắn với ngôn ngữ thi ca (Richards và cộng sự 1992, Hobby 2005, Charteris-Black 2004, Al-Zoubi và cộng sự 2006, Kövecses 2015). Bước ngoặt tri nhận xuất hiện từ công trình của George Lakoff và Mark Johnson (1980, 1999) với quan niệm ẩn dụ là phương thức tư duy mang tính nghiệm thân. Tiếp đó, các nghiên cứu của Lakoff (1987, 1993), Lakoff và Turner (1989), Grady (1997) làm rõ mối liên hệ giữa kinh nghiệm cảm giác và cấu trúc ý niệm. Về diễn ngôn chính trị, Lakoff (1996) nghiên cứu mô hình tư duy của phe bảo thủ và cấp tiến tại Mỹ với các ẩn dụ gia đình ("Quốc gia là một gia đình", "Chính phủ là cha mẹ", "Công dân là con cái"); Young (2006) khảo sát khẩu hiệu bầu cử tại Úc; Jonathan Charteris-Black (2011) phân tích diễn văn của Martin Luther King, Ronald Reagan, Margaret Thatcher, Bill Clinton, Barack Obama; Fadda (2006) khảo sát phát biểu của George W. Bush sau sự kiện 11/9; Meadows (2006) nghiên cứu diễn ngôn về vấn đề Iraq; Vestermark (2007) chỉ ra mô hình "Quốc gia là một con người" trong diễn văn nhậm chức tổng thống Mỹ; Arcimaviciene (2008) ghi nhận các miền nguồn cờ bạc, trò chơi, thể thao tại Anh; Ahrens và Lee (2009) phân tích mô hình chính phủ như người cha trong diễn ngôn chính khách Mỹ.
Ở trong nước, các nghiên cứu truyền thống tiêu biểu có Nguyễn Thiện Giáp (2011). Hướng tiếp cận tri nhận manh nha từ nghiên cứu từ chỉ hướng vận động của Nguyễn Lai (1990), khái niệm tri giác của Nguyễn Đức Tồn (2002), chuyên khảo tổng thuật của Trần Văn Cơ (2009), công trình nền tảng của Lý Toàn Thắng (2005) và nghiên cứu ngữ nghĩa cú pháp của Nguyễn Văn Hiệp (2008). Ẩn dụ ý niệm sau đó được mở rộng sang nhiều mảng: không gian - thời gian (Nguyễn Đức Dân, Trịnh Sâm); cảm xúc (Phan Thế Hưng 2009, Ly Lan 2012, Trần Bá Tiến 2012, Vi Trường Phúc 2014, Trần Thế Phi 2016, Nghiêm Hồng Vân 2018); bộ phận cơ thể (Võ Kim Hà 2011, Trịnh Thị Thanh Huệ 2012); thực vật (Trần Thị Phương Lý 2012, Nguyễn Thị Bích Hạnh 2018); văn học và ca từ (Huỳnh Ngọc Mai Kha 2015, Phạm Thị Hương Quỳnh 2017, Ngô Tuyết Phượng 2017, Nguyễn Thị Bích Hạnh 2015); diễn ngôn kinh tế, quảng cáo và chứng khoán (Hà Thanh Hải 2011, Nguyễn Thị Lan Phương 2020, Nguyễn Thị Thanh Huyền 2019).
Đối với mảng diễn ngôn chính trị trong nước, các công trình đi trước bao gồm: luận án của Nguyễn Thị Như Ngọc (2015) khảo sát văn bản diễn thuyết chính trị Mỹ và vấn đề dịch thuật với 14 miền nguồn và 4 miền đích; bài viết của Nguyễn Xuân Hồng (2019) khảo sát 57 diễn ngôn chính trị Mỹ với 257 biểu thức ẩn dụ và luận án tiến sĩ (2020) nghiên cứu 7 miền nguồn; luận án của Nguyễn Tiến Dũng (2019) nghiên cứu ẩn dụ chính trị trên 16 miền nguồn tiếng Anh và tiếng Việt.
Khoảng trống mà luận án này lựa chọn giải quyết là: các nghiên cứu trước phần lớn khảo sát diễn văn của chính khách (chủ yếu là diễn văn nhậm chức hoặc tranh cử tại Mỹ) hoặc tập trung vào bình diện dịch thuật, chưa có công trình nào đối chiếu chuyên sâu hệ thống ẩn dụ cấu trúc trong thể loại bài viết bình luận chính trị quốc tế trên báo chí chính thống giữa tiếng Việt (Báo Nhân dân điện tử) và tiếng Anh (The New York Times). Luận án xác lập việc giải mã cơ chế ánh xạ ở hai miền đích cụ thể là "Chính trị" và "Quốc gia" trên nguồn ngữ liệu song ngữ quy mô lớn nhằm làm rõ sự tương đồng và dị biệt về văn hóa và tư duy nhận thức.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết, luận án vận dụng các khái niệm nền tảng của ngôn ngữ học tri nhận:
- Khái niệm ẩn dụ ý niệm: định nghĩa theo Lakoff và Johnson (1980) là sự ý niệm hóa một miền tinh thần này qua một miền tinh thần khác thông qua sự ánh xạ có hệ thống từ miền nguồn (source domain) sang miền đích (target domain).
- Ý niệm và ý niệm hóa: ý niệm là đơn vị cấu thành mô hình tri nhận; ý niệm hóa là hoạt động tinh thần kiến tạo ý nghĩa dựa trên tri giác cảm tính và kinh nghiệm của con người trong môi trường văn hóa.
- Lược đồ hình ảnh (image schema): các cấu trúc trải nghiệm không gian lặp đi lặp lại (chuyển động, vật chứa, liên kết...) làm nền tảng cho việc hình thành ẩn dụ.
- Cơ chế ánh xạ (mapping): sự phóng chiếu các yếu tố tương ứng giữa miền nguồn và miền đích. Ánh xạ mang tính bộ phận (chỉ một số thuộc tính được làm nổi bật - highlighting, các thuộc tính khác bị làm mờ - hiding) và tính đơn tuyến (chuyển di một chiều từ nguồn sang đích).
- Tính tầng bậc: cấu trúc ẩn dụ được tổ chức từ cấp độ khái quát (ẩn dụ thượng danh) xuống cấp độ cụ thể (ẩn dụ hạ danh).
- Tính nghiệm thân (embodiment): trải nghiệm vật lý, tâm lý và xã hội của cơ thể con người quyết định phương thức tri nhận và cấu trúc ý niệm hóa ngôn ngữ.
- Phân loại ẩn dụ: tiếp thu hệ thống phân loại của Lakoff và Johnson gồm ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể và ẩn dụ định hướng; trong đó ẩn dụ cấu trúc là loại hình cung cấp lượng tri thức phong phú và chi tiết nhất về miền đích.
- Diễn ngôn chính trị: tiếp cận theo quan điểm của Teun A. van Dijk (1997), Từ điển tiếng Việt (2003) và các học giả trong nước (Nguyễn Thị Hương, Trần Thị Hoàng Anh 2017), xác định diễn ngôn chính trị là loại diễn ngôn đề cập đến phương thức quản lý xã hội, thể hiện mối quan tâm của con người đối với các vấn đề nhà nước và có sự gắn kết trực tiếp giữa diễn ngôn với hành động thuyết phục.
- Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu: vận dụng quan điểm của Bùi Mạnh Hùng (2008) về việc so sánh hai ngôn ngữ không cùng cội nguồn để tìm ra nét tương đồng và dị biệt trên bình diện từ vựng (các từ ngữ chỉ dẫn ẩn dụ).
Về phương pháp nghiên cứu, luận án kết hợp phương pháp định tính và định lượng:
- Phương pháp định lượng: sử dụng thủ pháp thống kê, phân loại để tính toán tần số xuất hiện, tỉ lệ phần trăm của từng mô hình ẩn dụ cấu trúc trên ngữ liệu hai ngôn ngữ, tạo cơ sở dữ liệu đối chiếu khách quan.
- Phương pháp định tính: áp dụng phương pháp miêu tả và phân tích diễn ngôn (kết hợp lý thuyết quan yếu - Relevance Theory của Sperber và Wilson) để phân tích ngữ cảnh, làm rõ cơ chế ánh xạ giữa miền nguồn và miền đích, lý giải cách tri nhận của hai cộng đồng ngôn ngữ.
- Phương pháp so sánh đối chiếu: triển khai đối chiếu hai chiều giữa tiếng Việt và tiếng Anh trên bình diện các từ ngữ dụ dẫn (metaphorically used words) trong câu và ngữ đoạn.
- Cách tiếp cận liên ngành: phối hợp tri thức ngôn ngữ học với văn hóa học, triết học và chính trị học.
Quy trình nhận diện ẩn dụ được thực hiện theo quy trình MIP (Metaphor Identification Procedure) do nhóm Pragglejaz (2007) đề xuất, gồm 4 bước:
- Đọc toàn bộ văn bản diễn ngôn để nắm bắt nghĩa tổng thể.
- Xác định các đơn vị từ vựng có tiềm năng sử dụng theo lối ẩn dụ trong ngữ cảnh.
- Đối chiếu nghĩa ngữ cảnh của từ vựng với nghĩa cơ bản (nghĩa cụ thể, vật lý, lịch sử hơn) của nó; nếu nghĩa ngữ cảnh khác nghĩa cơ bản nhưng có thể hiểu được thông qua sự so sánh, đối chiếu thì đơn vị đó được xác định là từ biểu lộ ẩn dụ (dụ dẫn).
- Xác định miền nguồn, miền đích và gọi tên mô hình ẩn dụ ý niệm tương ứng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết
Chương 1 dành trọn vẹn dung lượng để xây dựng hệ thống cơ sở lý luận và điểm luận tài liệu nghiên cứu. Chương này chia làm ba phần chính:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu: Trình bày chi tiết lịch sử nghiên cứu ẩn dụ từ góc độ tu từ học truyền thống đến bước chuyển ngôn ngữ học tri nhận trên thế giới và ở Việt Nam; tổng thuật các hướng nghiên cứu diễn ngôn chính trị và việc ứng dụng lý thuyết ẩn dụ ý niệm vào phân tích diễn ngôn chính trị quốc tế.
- Cơ sở lý thuyết về ẩn dụ ý niệm: Làm rõ định nghĩa, bản chất tri nhận của ẩn dụ, mối quan hệ giữa ý niệm và ý niệm hóa, vai trò của lược đồ hình ảnh, cấu trúc miền nguồn - miền đích, cơ chế ánh xạ hai chiều (tính bộ phận, tính làm nổi bật/làm mờ, tính đơn tuyến), tính tầng bậc và tính nghiệm thân gắn với văn hóa. Trình bày chi tiết ba loại ẩn dụ ý niệm (cấu trúc, bản thể, định hướng) và xác lập 4 bước nhận diện ẩn dụ theo quy trình MIP.
- Cơ sở lý luận về diễn ngôn chính trị và so sánh đối chiếu: Định nghĩa diễn ngôn chính trị, phân loại diễn ngôn chính trị (diễn ngôn hứa hẹn, diễn ngôn quyết định, diễn ngôn biện bạch), vai trò của chuyên mục bình luận quốc tế trên Báo Nhân dân điện tử và The New York Times; xác định nguyên lý so sánh đối chiếu hai chiều trên bình diện từ vựng - ngữ nghĩa của ngôn ngữ học đối chiếu.
Chương 2: Đối chiếu ẩn dụ cấu trúc có miền đích "Chính trị" trong diễn ngôn chính trị tiếng Việt và tiếng Anh
Chương 2 tập trung phân tích và đối chiếu các ẩn dụ cấu trúc có miền đích "Chính trị" xuất hiện trong 720 bài viết khảo sát. Tổng số lượt xuất hiện của ẩn dụ cấu trúc miền đích "Chính trị" là 2.145 lượt, trong đó tiếng Việt chiếm 1.193 lượt và tiếng Anh chiếm 952 lượt. Tác giả xác định được 5 mô hình ẩn dụ cấu trúc thượng danh. Số liệu thống kê cụ thể được tổng hợp trong bảng sau:
| Mô hình ẩn dụ cấu trúc thượng danh |
Tiếng Việt (Lượt) |
Tiếng Việt (Tỉ lệ %) |
Tiếng Anh (Lượt) |
Tiếng Anh (Tỉ lệ %) |
| CHÍNH TRỊ LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH |
295 |
25,0% |
321 |
34,0% |
| CHÍNH TRỊ LÀ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG |
120 |
10,0% |
136 |
14,3% |
| CHÍNH TRỊ LÀ CHIẾN TRANH |
263 |
22,0% |
383 |
40,0% |
| CHÍNH TRỊ LÀ NHIỆT |
291 |
24,0% |
80 |
8,4% |
| CHÍNH TRỊ LÀ HIỆN TƯỢNG THỜI TIẾT/ TỰ NHIÊN |
224 |
19,0% |
32 |
3,3% |
| Tổng cộng |
1.193 |
100% |
952 |
100% |
Nội dung phân tích từng mô hình ẩn dụ cấu trúc trong chương phản ánh những phát hiện sau:
- CHÍNH TRỊ LÀ CHIẾN TRANH: Chiếm tỉ lệ áp đảo trong ngữ liệu tiếng Anh (40,0% với 383 lượt), trong khi ở tiếng Việt chiếm 22,0% (263 lượt). Sơ đồ ánh xạ chuyển di các yếu tố từ chiến tranh (lực lượng tham chiến, vũ khí, phòng thủ, tấn công, mục tiêu) sang chính trị (các đảng phái, chính sách, biện pháp đấu tranh, cử tri). Tiếng Anh sử dụng phổ biến các từ ngữ mang tính xung đột trực diện và bạo lực quân sự (như potshots, battleground, weapon, assault, ceasefire). Tiếng Việt cũng ghi nhận các dụ dẫn như cuộc chiến, mũi nhọn, phòng tuyến, tấn công, nhưng tần suất thấp hơn.
- CHÍNH TRỊ LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH: Xuất hiện với tần suất cao ở cả hai ngôn ngữ (tiếng Anh: 34,0% với 321 lượt; tiếng Việt: 25,0% với 295 lượt). Ánh xạ cấu trúc dựa trên lược đồ chuyển động: điểm xuất phát (bối cảnh ban đầu), người lữ hành (chính trị gia, quốc gia), con đường (đường lối chính trị), phương tiện, chướng ngại vật (khủng hoảng, rào cản) và đích đến (mục tiêu chính trị). Các từ ngữ dụ dẫn phổ biến gồm con đường, bước ngoặt, lộ trình, chệch hướng, về đích (tiếng Việt) và path, road, crossroads, milestones, direction (tiếng Anh).
- CHÍNH TRỊ LÀ NHIỆT: Có sự chênh lệch lớn giữa hai ngôn ngữ. Tiếng Việt chiếm tỉ lệ rất cao (24,0% với 291 lượt), trong khi tiếng Anh chỉ chiếm 8,4% (80 lượt). Miền nguồn "Nhiệt" trong tiếng Việt thể hiện sự đa dạng thông qua các trạng thái nhiệt độ vật lý phản ánh mức độ căng thẳng chính trị: nóng bỏng, điểm nóng, hạ nhiệt, đóng băng, nguội lạnh. Tiếng Anh sử dụng các biểu thức tương đương như hotspot, cool down, freeze, nhưng mức độ đa dạng từ vựng thấp hơn.
- CHÍNH TRỊ LÀ HIỆN TƯỢNG THỜI TIẾT/ TỰ NHIÊN: Tiếng Việt chiếm 19,0% (224 lượt), vượt trội so với tiếng Anh chỉ chiếm 3,3% (32 lượt). Các hiện tượng như bão táp, sóng gió, mây đen, giông lốc, đóng băng được tác giả bình luận tiếng Việt khai thác sâu sắc để mô tả sự biến động của chính trị quốc tế.
- CHÍNH TRỊ LÀ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG: Tiếng Anh đạt 14,3% (136 lượt), tiếng Việt đạt 10,0% (120 lượt). Ánh xạ biểu hiện qua các yếu tố: nền móng (cơ sở pháp lý, thể chế), vật liệu xây dựng, quá trình thi công, sự sụp đổ (đặt nền móng, xây dựng, củng cố, sụp đổ trong tiếng Việt; foundation, framework, pillar, collapse, construct trong tiếng Anh).
Chương 3: Đối chiếu ẩn dụ cấu trúc có miền đích "Quốc gia" trong diễn ngôn chính trị tiếng Việt và tiếng Anh
Chương 3 khảo sát miền đích "Quốc gia" với tổng số 2.826 lượt xuất hiện ẩn dụ cấu trúc trong cả hai khối ngữ liệu. Tác giả tập trung phân tích mô hình ẩn dụ thượng danh "QUỐC GIA LÀ MỘT CON NGƯỜI" và ba mô hình ẩn dụ hạ danh kế thừa cấu trúc của nó:
- QUỐC GIA LÀ MỘT CON NGƯỜI: Đây là mô hình nhân hóa nền tảng, biến một thực thể địa lý - chính trị trừu tượng thành một sinh thể sống có nhận thức, ý chí và các mối quan hệ xã hội. Sơ đồ ánh xạ chuyển đổi: cơ thể người sang lãnh thổ/bộ máy nhà nước; tính mạng sang sự tồn vong của quốc gia; các giai đoạn đời người (sinh ra, trưởng thành, suy tàn) sang tiến trình lịch sử quốc gia.
- ĐẶC ĐIỂM CỦA QUỐC GIA LÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CON NGƯỜI: Khảo sát các thuộc tính nhân tính được gán cho quốc gia:
- Về thể chất và sức khỏe: quốc gia khỏe mạnh, kiệt sức, mang trọng bệnh, phục hồi (healthy, fragile, paralyzed, suy kiệt, phục hồi).
- Về phẩm chất, tính cách và thái độ: quốc gia có trách nhiệm, kiêu ngạo, hung hăng, thân thiện, ích kỷ, cứng rắn (responsible, aggressive, friendly, hung hăng, thiện chí, trịch thượng).
- Về cảm xúc tâm lý: quốc gia lo âu, giận dữ, thất vọng, hài lòng.
- HOẠT ĐỘNG CỦA QUỐC GIA LÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI: Khảo sát các hành vi xã hội của quốc gia:
- Giao tiếp và tương tác ngôn ngữ: quốc gia lên tiếng, tuyên bố, lắng nghe, im lặng (speak, listen, silence, lên tiếng, phớt lờ).
- Hành động thể chất và quan hệ đối ngoại: quốc gia bắt tay, quay lưng, chìa tay, can thiệp, dấn thân, rút lui, kết bạn, cô lập.
- Trách nhiệm và nghĩa vụ xã hội: quốc gia thực hiện cam kết, đóng vai trò đầu tàu, gánh vác trách nhiệm.
Kết quả đối chiếu ở Chương 3 chỉ ra rằng cả tiếng Việt và tiếng Anh đều sử dụng với mật độ đậm đặc mô hình ý niệm nhân cách hóa quốc gia. Tuy nhiên, diễn ngôn tiếng Anh trên The New York Times có xu hướng cá nhân hóa mạnh mẽ, gắn hành vi của quốc gia với tính cách của các nhà lãnh đạo đương quyền cụ thể; trong khi diễn ngôn tiếng Việt trên Báo Nhân dân điện tử thể hiện xu hướng quy ước tập thể, coi quốc gia như một thực thể đạo đức có trách nhiệm chung trong cộng đồng quốc tế.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án có những đóng góp cụ thể:
- Hệ thống hóa và làm sáng rõ khung lý thuyết về ẩn dụ ý niệm nói chung và ẩn dụ cấu trúc nói riêng trong mối quan hệ với ngôn ngữ học tri nhận, chỉ rõ bản chất của cơ chế ánh xạ giữa miền nguồn và miền đích.
- Chứng minh tính bộ phận và tính tầng bậc của cấu trúc ẩn dụ: việc tri nhận miền đích "Chính trị" và "Quốc gia" không diễn ra ngẫu nhiên mà được tổ chức thành hệ thống thứ bậc chặt chẽ từ các ẩn dụ thượng danh xuống các ẩn dụ hạ danh.
- Khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ, tư duy và văn hóa: kết quả nghiên cứu chứng minh ẩn dụ ý niệm vừa có tính phổ quát (dựa trên trải nghiệm nghiệm thân chung của nhân loại như cơ thể, chuyển động, chiến tranh) vừa mang tính đặc thù dân tộc (chịu sự chi phối của môi trường sinh thái, phương thức tư duy nông nghiệp lúa nước của người Việt và tư duy phân tích, cạnh tranh của phương Tây).
- Bổ sung tư liệu lý luận vào mảng nghiên cứu diễn ngôn chính trị tại Việt Nam, chứng minh chức năng tri nhận và chức năng tác động, thuyết phục của ẩn dụ trong thể loại bình luận báo chí.
Về mặt thực tiễn, công trình đóng góp:
- Cung cấp một bộ ngữ liệu khảo sát thực nghiệm gồm 4.971 lượt xuất hiện ẩn dụ cấu trúc được trích xuất từ 720 bài báo chính luận trong giai đoạn 2016–2019, được xử lý qua quy trình nhận diện MIP.
- Đưa ra các cứ liệu đối chiếu cụ thể phục vụ cho công tác giảng dạy ngôn ngữ, đặc biệt là giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành chính trị, quan hệ quốc tế và báo chí truyền thông.
- Hỗ trợ thiết thực cho hoạt động biên phiên dịch các văn bản chính luận, giúp dịch giả nhận diện cấu trúc ánh xạ ngầm ẩn để lựa chọn phương án chuyển dịch tương đương về mặt ý niệm thay vì dịch thô từ ngữ bề mặt.
Về mặt kiến nghị và giải pháp, tác giả đề xuất:
- Cần đưa lý thuyết ẩn dụ ý niệm và quy trình phân tích diễn ngôn tri nhận vào chương trình đào tạo chuyên ngành ngôn ngữ học, ngoại ngữ và báo chí nhằm nâng cao năng lực phân tích văn bản cho sinh viên và học viên sau đại học.
- Biên tập viên và dịch giả báo chí đối ngoại cần nắm vững cơ chế ánh xạ ẩn dụ của từng ngôn ngữ để xử lý chính xác các sắc thái biểu cảm và thông điệp ngầm ẩn trong diễn ngôn chính trị quốc tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định rõ các giới hạn sau:
- Về phạm vi loại hình ẩn dụ: Luận án chỉ tập trung khảo sát ẩn dụ cấu trúc (structural metaphor), chưa nghiên cứu sâu hai loại hình còn lại trong hệ thống phân loại của Lakoff là ẩn dụ bản thể (ontological metaphor) và ẩn dụ định hướng (orientational metaphor).
- Về phạm vi miền đích: Công trình chỉ giới hạn khảo sát ở hai miền đích xác định trước là "Chính trị" và "Quốc gia", chưa bao quát hết các miền đích trừu tượng khác trong đời sống chính trị - xã hội (như quyền lực, thể chế, chính sách, khủng hoảng).
- Về nguồn ngữ liệu: Dữ liệu nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở hai chuyên mục bình luận ("Bình luận quốc tế" của Báo Nhân dân điện tử và "Opinion" của The New York Times) trong khoảng thời gian từ tháng 6/2016 đến tháng 6/2019, chưa mở rộng sang các thể loại diễn ngôn chính trị khác như diễn văn ngoại giao, tranh luận nghị trường, hay văn kiện chính thức.
- Về cấp độ đối chiếu: Luận án chủ yếu tập trung đối chiếu trên bình diện từ vựng (các đơn vị dụ dẫn) mà chưa khảo sát toàn diện ở các bình diện cú pháp và ngữ âm.
Về hướng nghiên cứu tiếp sau, luận án gợi mở:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các dạng thức ẩn dụ bản thể và ẩn dụ định hướng trong diễn ngôn chính trị.
- Mở rộng khảo sát các miền đích khác trong lĩnh vực quản trị nhà nước và chính sách công.
- Tiếp tục khảo sát các thể loại diễn ngôn chính trị bằng lời nói (diễn văn trực tiếp, họp báo ngoại giao, tranh luận bầu cử) để so sánh đặc điểm ẩn dụ giữa diễn ngôn viết và diễn ngôn nói.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu, Ngôn ngữ Anh và Việt ngữ học: tham khảo khung lý thuyết ẩn dụ ý niệm, lý thuyết nghiệm thân và quy trình nhận dạng ẩn dụ MIP áp dụng vào phân tích văn bản thực tế.
- Chuyên gia phân tích chính trị, phóng viên và biên tập viên báo chí quốc tế: tham khảo phương thức giải mã thông điệp ngầm ẩn và định hướng dư luận thông qua hệ thống hình ảnh biểu trưng trong các bài bình luận.
- Dịch giả và giảng viên biên phiên dịch: tham khảo phương pháp xử lý sự chuyển di ngữ nghĩa giữa hai ngôn ngữ Anh - Việt đối với các thuật ngữ và biểu thức chính trị mang tính ẩn dụ cao.
Phần đáng chú ý nhất để tham khảo là hệ thống các bảng thống kê định lượng chi tiết ở Chương 2 và Chương 3, cùng các sơ đồ ánh xạ từ miền nguồn cụ thể sang miền đích trừu tượng.
Câu hỏi thường gặp
1. Nguồn ngữ liệu và tiêu chí lựa chọn cứ liệu của luận án được xác định như thế nào?
Tác giả khảo sát 720 bài viết diễn ngôn chính trị trong thời gian 3 năm (01/06/2016 đến 30/06/2019), gồm 360 bài tiếng Việt từ mục "Bình luận quốc tế" của Báo Nhân dân điện tử và 360 bài tiếng Anh từ mục "Opinion" của The New York Times. Lý do lựa chọn là vì đây là hai cơ quan báo chí lớn của Việt Nam và Mỹ, có định hướng chính luận rõ nét, bài viết có tính logic cao và sử dụng mật độ ẩn dụ ý niệm đậm đặc.
2. Quy trình nhận diện ẩn dụ MIP được tác giả áp dụng qua các bước cụ thể nào?
Quy trình nhận diện ẩn dụ MIP (Metaphor Identification Procedure của nhóm Pragglejaz 2007) được triển khai qua 4 bước: (1) Đọc toàn bộ diễn ngôn để xác định nghĩa tổng thể; (2) Xác định các từ ngữ có tiềm năng ẩn dụ; (3) Đối chiếu nghĩa ngữ cảnh với nghĩa cơ bản cụ thể hơn của từ ngữ để xác định từ biểu lộ ẩn dụ (dụ dẫn); (4) Xác định miền nguồn, miền đích và thiết lập mô hình ẩn dụ tương ứng.
3. Ở miền đích "Chính trị", mô hình ẩn dụ nào có sự chênh lệch lớn nhất giữa tiếng Việt và tiếng Anh?
Sự chênh lệch lớn nhất thể hiện ở ba mô hình: mô hình "CHÍNH TRỊ LÀ CHIẾN TRANH" chiếm ưu thế vượt trội trong tiếng Anh (40,0% so với 22,0% của tiếng Việt); ngược lại, hai mô hình "CHÍNH TRỊ LÀ NHIỆT" và "CHÍNH TRỊ LÀ HIỆN TƯỢNG THỜI TIẾT/ TỰ NHIÊN" chiếm tỉ lệ áp đảo trong tiếng Việt (lần lượt là 24,0% và 19,0% ở tiếng Việt, so với 8,4% và 3,3% ở tiếng Anh).
4. Tại sao luận án chỉ tập trung vào ẩn dụ cấu trúc mà không khảo sát ẩn dụ bản thể và ẩn dụ định hướng?
Tác giả giải thích rằng trong ba loại ẩn dụ ý niệm theo phân loại của Lakoff, ẩn dụ cấu trúc là loại hình có chức năng nhận thức mạnh mẽ nhất, cho phép hiểu miền đích trừu tượng thông qua cấu trúc phong phú, hoàn chỉnh của miền nguồn cụ thể, phù hợp nhất với bản chất lập luận và tác động tư tưởng của thể loại diễn ngôn chính trị.
5. Luận án thực hiện so sánh đối chiếu hai ngôn ngữ ở bình diện nào?
Luận án áp dụng phương pháp so sánh đối chiếu hai chiều giữa tiếng Việt và tiếng Anh, tập trung chủ yếu vào bình diện từ vựng (các đơn vị dụ dẫn ẩn dụ) xuất hiện trong các kết hợp ngữ đoạn và câu văn cụ thể, nhằm chỉ ra những tương đồng và khác biệt về tri nhận giữa hai cộng đồng văn hóa.
Kết luận
Luận án của tác giả Hồ Thị Thoa là một công trình nghiên cứu hệ thống về ẩn dụ cấu trúc trong diễn ngôn chính trị tiếng Việt và tiếng Anh trên ngữ liệu báo chí quốc tế giai đoạn 2016–2019. Thông qua việc phân tích 4.971 lượt biểu thức ẩn dụ ở hai miền đích "Chính trị" và "Quốc gia", tác giả đã làm sáng tỏ cơ chế ánh xạ tri nhận, tính tầng bậc và tính bộ phận của các mô hình ẩn dụ cấu trúc. Kết quả nghiên cứu khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa tư duy ngôn ngữ với bối cảnh văn hóa dân tộc, đồng thời cung cấp nguồn tư liệu thực nghiệm hữu ích cho nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ và thực tiễn giảng dạy, dịch thuật chính luận.