LỜI MỞ ĐẦU Trong thực tế hiện nay luôn có các tình huống sư phạm xảy ra trong hệ thống giáo dục phổ thông và giáo dục đặc biệt. Giáo viên tìm cách giải quyết tình huống có hiệu quả với các trẻ bình thường đã khó huống chi là với trẻ khuyết tật. Mỗi trẻ khuyết tật là một cá nhân, các em có năng lực, nhu cầu và cách thể hiện hành vi riêng của mình. Bởi vậy, giáo viên không thể đưa ra cách giải quyết tình huống cố định mà cần linh hoạt với từng trẻ ở các dạng tật khác nhau.
Ví dụ không thể đem cách giải quyết tình huống của trẻ tự kỉ này áp dụng cho trẻ khiếm thính hoặc khiếm thị, thậm chí là với trẻ tự kỉ khác. Trong cuốn sách này, tác giả có đề cập đến các tình huống có liên quan đến những hội chứng: tự kỉ; tăng động giảm tập trung, down; v. và các dạng tật sau trẻ khuyết tật trí tuệ, trẻ bại não, trẻ động kinh, trẻ khiếm thính, trẻ khiếm thị và trẻ đa tật. Giáo viên trong lớp tìm ra được các cách giải quyết các tình huống sư phạm trong giáo dục đặc biệt hợp lí sẽ góp phần tạo nên mối quan hệ thân thiện giữa thầy và trò đồng thời cũng nâng cao chất lượng hiệu quả của việc tổ chức các hoạt động dạy và học.
Tài liệu này lần đầu tiên ra mắt, chắc chắn còn nhiều hạn chế. Với mong muốn cuốn sách ngày càng được hoàn thiện hơn trong những năm tiếp theo, nên tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến quý báu của các độc giả khi sử dụng tài liệu này. Xin chân thành cám ơn! DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT AAMR: American Association on Mental Retardation (now American Association on Intellectual and Developmental Disabilities) Hiệp hội khuyết tật trí tuệ Mỹ AAC: Augmentative & Alternative Communication - Phương pháp sử dụng dụng cụ hỗ trợ giúp trẻ giao tiếp ABA: Applied Behavior Analysis - Phân tích hành vi ứng dụng ADHD (AD/HD): Attention- Deficit Hyperactivity Disorder(AD/HD) Tăng động giảm tập trung. KTTT: Khuyết tật trí tuệ GDĐB: Special Education - Giáo dục đặc biệt GV: Giáo viên PECS: The Picture Exchange Communication System - Phương pháp trao đổi thẻ hình TEACCH: Treatment and Education of Autistic and related Communication- handicapped Children - Phương pháp giáo dục và dạy dỗ dành cho trẻ tự kỉ Phần 1.
PHÂN TÍCH MỘT SỐ TÌNH HUỐNG SƯ PHẠM TRONG GIÁO DỤC ĐẶC BIỆT I. PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG SƯ PHẠM TRONG GIÁO DỤC ĐẶC BIỆT VỚI TRẺ TỰ KỈ Tình huống 1 Có một trẻ tự kỉ A trong lớp của bạn chỉ thích chơi một mình. Trông em đó rất khôi ngô nhưng lại không thể giao tiếp với cô và các bạn bằng lời. Ngôn ngữ tiếp nhận của trẻ khá hơn so với ngôn ngữ biểu đạt.
Khi cô giáo muốn đến chơi hoặc nói chuyện cùng thì trẻ lảng đi chỗ khác và có hành động vẫy tay liên tục. Các giáo viên trong lớp đó hầu như không ai có thể giao tiếp được với trẻ. Khi không vừa ý, trẻ la lên đập phá đồ chơi hoặc tự đánh vào mình. PHÂN TÍCH: Chúng ta cần hiểu rằng trẻ tự kỉ A không sống với thế giới bên ngoài mà chỉ sống với thế giới nội tâm mà trẻ đang có.
Trẻ gặp khó khăn trong việc hiểu âm thanh và ngôn ngữ, trẻ thường suy nghĩ bằng thị giác. Trẻ tự kỉ thường học/ tiếp nhận kiến thức bằng mắt. Nói cách khác, trẻ tự kỉ xử lí thông tin qua kênh thị giác tốt hơn thính giác. Nếu trong lớp có trẻ tự kỉ A học hòa nhập, giáo viên có thể áp dụng phương pháp TEACCH hoặc ABA để giáo dục và dạy.
Với trẻ tự kỉ A, giáo viên nên trao đổi với phụ huynh về tình trạng của trẻ. Hỏi họ xem ở nhà trẻ có biểu hiện thế nào; giống hay khác ở lớp? Giáo viên nên hỏi ý kiến đồng nghiệp, hoặc tìm các thông tin về trẻ qua phụ huynh, hồ sơ, tài liệu có liên quan. Sau đó, giáo viên quan sát để tìm hiểu sở thích, thói quen của trẻ: Trẻ thích những đồ dùng, đồ chơi nào ở lớp? Hoạt động nào của lớp trẻ thích tham gia? Món ăn nào ở lớp mà trẻ thích và trẻ ghét món ăn nào nhất? v.v… từ đó tạo ra các tình huống để thu hút sự chú ý của trẻ. Sau đó cô cùng chơi với trẻ, giúp trẻ an tâm và tự tin hơn qua đó trẻ có thể giao tiếp với cô thông qua cử chỉ điệu bộ hoặc thẻ giao tiếp.
Hãy tạo cho trẻ một cái nhìn tổng quát với các kết cấu rõ ràng: về không gian, thời gian, hoạt động và con người. Ví dụ: Lịch hoạt động buổi sáng ở lớp mẫu giáo (MG) có trẻ tự kỉ học hòa nhập. Trẻ sẽ biết là vào sáng thứ 2 trẻ sẽ có 4 hoạt động chính: trẻ sẽ tham gia hoạt động chung, học; sau đó trẻ được chơi; ăn trưa và ngủ. Các trẻ tự kỉ rất lúng túng vì không biết bắt đầu ở đâu và kết thúc khi nào.
Khi trẻ tham gia xong một hoạt động, giáo viên có thể cho trẻ dùng bút dạ đỏ đánh một dấu X (hoặc sử dụng một tấm giấy trong có vạch dấu nhân màu đỏ như trên) lên hoạt động đó. Trẻ tự kỉ sẽ biết hoạt động tiếp theo của mình là gì?. Thậm chí giáo viên có thể dùng đồng hồ để cho trẻ biết là hoạt động này cần bao nhiêu phút. Khi chuông kêu thì hoạt động này sẽ phải kết thúc.
Đối với các hoạt động đơn giản hãy cho trẻ quyền lựa chọn, nhưng thay vì giáo viên chỉ nói: A à; con muốn chơi cát hay chơi bóng thì trẻ tự kỉ sẽ không hiểu. Nhưng nếu giáo viên đưa ra 2 cái thẻ giao tiếp (minh họa phía trên) và hỏi trẻ thì trẻ sẽ hiểu ngay và em sẽ chỉ vào một trò chơi mà em thích. Đối với các hoạt động phức tạp, giáo viên cần chia nhỏ các bước thông qua hình ảnh trực quan cho trẻ nhìn và thực hiện theo. CÁC BƯỚC DẠY TRẺ TỰ KỈ ĐI TẤT 1.
Cuộn tất vào hai tay 3. Trùm tất qua 5 đầu ngón chân 4. Kéo tất qua bàn chân 5. Kéo tất qua gót chân 6.
Kéo tất qua cổ chân 7. Kéo lên tới bắp chân Các trẻ tự kỉ thường thích thực hiện hoạt động một mình. Trẻ sẽ không thoải mái, thậm chí trẻ cảm thấy bất an khi cùng tham gia với các trẻ khác. Giáo viên có thể cho trẻ một không gian nhỏ trong lớp để em đó thực hiện những hoạt động học tập quan trọng với các hình ảnh chỉ dẫn cụ thể (có thể dùng thẻ giao tiếp; bằng giao tiếp và sách giao tiếp).
Những hôm giáo viên nghỉ do bận công việc hoặc thay đổi sinh hoạt bất thường cần báo trước cho trẻ tự kỉ biết và nhắc lại nhiều lần…. Nếu giáo viên kiên trì áp dụng phương pháp TEACCH vào việc chăm dạy trẻ tự kỉ thì sau một thời gian trẻ A sẽ có những tiến bộ rõ rệt. Tình huống 2 Trong lớp mẫu giáo lớn của cô Thoa có một trẻ tự kỉ tên An học hòa nhập. Giáo viên trong lớp quan sát thấy An có các biểu hiện sau: • Thường xuyên lặp đi, lặp lại một hoạt động lắc lư người và xoa hai tay vào nhau.
• An phản ứng mạnh (la hét và chạy xung quanh lớp) khi ai đó chạm vào người mình: vỗ nhẹ vào tay, đặt tay lên vai, chạm vào chân hay bụng trẻ. • Không nhạy cảm với các vết do cào cấu, đau do bị ngã,. PHÂN TÍCH: Trước tiên, giáo viên cần tìm hiểu khả năng và nhu cầu của An để phát hiện những khó khăn mà An gặp phải. Xác định các mục tiêu ưu tiên cần can thiệp cho trẻ trong từng thời điểm sau khi bàn bạc và thống nhất ý kiến với cha mẹ bé An: Những hành vi nào của An ảnh hưởng đến việc dạy của GV; việc học của cả lớp và ảnh hưởng đến chính bé An thì nên can thiệp đầu tiên.
Ví dụ, giáo viên thông báo cho cha mẹ bé An thấy rằng: Vào thời điểm này cô gặp rất nhiều khó khăn khi các bạn trong lớp vô tình chạm phải người An. Cứ mỗi lần như vậy là An lại hét lên ầm ĩ và chạy xung quanh lớp mặc dù cô giáo đang tổ chức hoạt động chung. Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc An hét lên ầm ĩ và chạy xung quanh lớp một phần cũng do em luôn lắc lư hay đung đưa người nên cơ thể An đã chạm vào bạn khác. Qua tìm hiểu thông tin từ gia đình và nhà trường kết hợp với quan sát được biết An gặp nhiều khó khăn do em thường xuyên bị ảnh hưởng bởi xúc giác và cảm giác về vận động.
Khi có bạn cùng lớp vô tình chạm nhẹ vào người (đặc biệt chạm vào bụng An) lập tức em phản ứng rất mạnh bằng cách la hét ầm ĩ và chạy lòng vòng quanh lớp. Đây là lí do chính khiến em không thích người khác chạm vào người mình. An cũng có khó khăn một chút về vận động và có khó khăn về tiền đình vì vậy em hay lắc lư và đung đưa người. - Để giúp bé An giảm bớt sự nhạy cảm cảm giác, bớt đi khó khăn về vận động và tiền đình, giáo viên dạy tiết cá nhân có thể lựa chọn một vài hoạt động sau: - Cùng trẻ chơi trò chơi cuộn tròn vào chiếc chăn bông, sau đó cho trẻ lăn ra khỏi chăn.
Dần dần GV giảm bớt độ dày của chăn bằng cách: thay chăn bông bằng chăn dạ,… rồi dần dần thay bằng vỏ chăn, nếu trẻ quen dần. - Cho trẻ đè lên quả bóng hơi to hơn người của trẻ và lăn qua lăn lại. - Cho trẻ gối đầu bằng gối mềm, nhẹ, sau đó thay bằng gối ít mềm hơn dần dần thay bằng gối nặng (chứa cát hoặc hạt đỗ bên trong). - Cho trẻ mặc áo ghi lê thiết kế đặc biệt phù hợp với trẻ làm giảm nhẹ hoạt động của hệ thống giác quan.
- Cho trẻ chơi các trò chơi với cát, với nước, với đất sét, xâu hạt, nặn đất, xếp hình,… - Cho trẻ nằm võng, nhặt các vật nhỏ (như lạc, đậu) bỏ vào chai ở bàn bên cạnh võng để tác động đến khả năng chỉnh hợp các giác quan của An. - Cho trẻ chơi xích đu, đi chân đất trên nền nhà, nền cát, bãi cỏ hoặc sân chơi cát, nhảy lên tấm đệm lò xo; chơi cầu trượt. - Cho trẻ tập vẽ bằng các ngón tay để trẻ trải nghiệm cảm giác chạm vào mọi thứ, thậm chí cả khi trẻ không thích chạm vào bất cứ cái gì.