CHƯƠNG I GIỚI THIỆU TÔNG QUÁT Théeu thông kế mi đãx của viện khoa học ghío dục Hà Nội làm tat ba tinh Hắc Ninh, Phú Thỏ, Thái Nguyên có tới 7% dẫn số hị khiếm thính phải dùng máy trợ thính, 3 người điệc nắng và sấu ảnh hưởng đến phát im, can can thiếp và phục hỏi nphe nói, giáo dục đặc biệt Theo điều tra của tiến sĩ Nguyễn Hải thuộc vụ bảo trợ xã hội thì còn số người khuyết tắt đ nước tủ lên đến 4,7 triệu người trong đó người khiểm thính chiếm 9,3 °. Ngoài cúc trường và các trung tắm đã có chiều đải lịch sử như Trung tâm Thuận An, trường dụy trẻ khiếm thính tại Xã Đoài Hà Nội, các trường dạy trẻ khuyết tật nói chúng và trẻ khiếm thỉnh cảng ngày càng được mở ra nơi cúc tỉnh trong cả nước, Về mặt chế đồ và chính sách của nhà nứức, tá thấy cíc quyết định số 36/CP ngày L7 tháng 4 năm 1995 quy định quyền chủ quản của Bộ Giáo duc trên các trường khuyết tật, tạo thuận ldi trong việc pghío đục người khuyết tật. Hai khoa Giáo dục đặc biết cũng đã được mở ra tại hai trường đại học trọng điểm của thủ đó Hà Nội và Thành phố Hỗ Chỉ Minh để chính thức đào tạo các cần hồ, giáo viên chuyền ngành có trình độ đái học trở nên. Tại các địa phương.
các trường dạy trẻ Khuyết tt nói chung và trẻ khiếm thính cành ngày càng được mở ru trong cả nước, Trong hối cũnh nảy, việc đào tao nhấn sự, việc xây dựng nội dụng chương trình, kế hoạch và nhượng pháp giáng dạy cho trẻ khuyết tật (nhất là cho hài dạng khiếm thỉnh vũ thiểu nâng trí tuệ) là một nhú cầu cấp bách. + Giant hank VASO hiến | ngay | bth? E5 XguxCb Hài. bap eho Liaoabiaie saw bel, sd [77 tran 3R- S8 Dé nai wy Bì BNM-31-5N I. LY DO CHON DE TAL 1.
Đáp ứng ước vọng có một chương trình giảng dạy cho các lớp dự bị. Được trực tiếp giảng dạy trẻ khiếm thính trong nhiều năm, tại Trung tâm Thuận An. đồng thời giảng dạy các lớp đào tạo giáo viên Cao đẳng Tat hoe, chúng tôi đã trải qua những kinh nghiệm dựa trên các phương pháp piáng dạy rút từ hệ thống giáo dục đặc biệt của Pháp và Hà Lan, Chúng tôi cũng cảm nhận được những thuận lợi, khó khăn của trẻ trong việc tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ các phương pháp đã được áp dụng. Đẳng thời qua các cuộc trò chuyện, bản kết luận của đựt đánh giá các khoá đào tao tai Trung tam Thuan An do tổ chức Caritas Thụy Sĩ tài trợ chúng tôi thấy sự khó khăn nhất đối với các giáo viên mới ra trường đó là việc dạy từ ngữ và ngữ pháp Tiếng Việt cho các trẻ mới đến trường.
Nhiều giáo viên ước vọng có một giáo trình giảng đạy cho các lớp dự bị, để họ có thể tham khảo, tra cứu, giảng dạy, rút kinh nghiệm trong giải đoạn tới ra trường. Đáp ứng việc giảng dạy và hướng dẫn cho trẻ khiểm thính trong hoàn cảnh cụ thể tại Việt Nam. Trang hoàn cảnh thực tế của xã hội Việt Nam hiện này, đá số trẻ khiểm thính được phát hiện trẻ và được đưa đến trường trễ. Các em không được qua chương trình can thiệp sớm, nên không có những ngôn ngữ cơ bản khởi đầu cho việc học, Ngay cả đối với các trẻ có cơ may được phái hiện sớm, trang bị máy trợ thính sớm, thì thành quả về kiến thức và ngôn ngữ của các em cũng củn rất giới hạn vì sự giới hạn của máy mốc thiết bị; sự thiểu cộng tác của phụ huynh.
Mỗi trường nội trú cũng là một trở lực lớn cho việc phát triển vẻ kiến thức và ngôn ngữ cho các em, Tất củ những lý do đó, khiến cho các học sinh ở cúc lớp dự bị hầu như còn xa lạ với việc tiếp cận và sử dụng ngôn ngữ qua Phe tì cần dhe HGNNH-11-3A4 toi trfững xung quanh, Những giáo trình day ngôn ngữ thông quá việc: “Lam quen với mi trưởng xung quanh” được hiến soạn cho trẻ mau gido, chưa phú hip vdivice ghing day cho tre Khiem thính, Với sự đồng viên khuyến khích của Bán Giảm đốc Trung tắm Cho dục Trẻ Khuvet tắt Thuận An, sự tích cực tham gìáa trong việc dày thứ nghiệm của Phùng giáo dục Thuận An (Bình Dương] và cứu giáo viên tụi Trung tâm Thuận An, chúng tôi đã mạnh dạn thực hiện để tải: NGHIÊN CỨỬU NIỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIÁO ĐỤC ĐỂ XÂY DỰNG BỘ TÀI LIỆU *TÌM HIỂU MỖI TRƯỜNG NUNG QUANH” CHO HỌC SINH KHIỂM THỈNH LỚP DỤ BỊ. MUC DICH CUA DE TAL: 1. Năng củ chất lượng tiếp thu và sử dung từ ngữ cho trẻ khiếm thính ở các lớp dự bị, để giúp cho các em học tập, giao tiếp tốt hơn và chuẩn bị hà nh trang nưồn ngữ cho các em bước vào vấp mội tiêu học, 3. Giúp cho cúc giáo viên, nhất là cúc giáo viên mới ru trường có mỗi tài liệu để sử dung, quy chiếu trong quá trình giảng dụy trẻ khiểm thính đ cúc lửnp dự hị.
a: Bước đấu xáy dựng một bộ tài liệu “Tìm hiểu Mỗi trường xung quanh cho trẻ khiếm thính ở trình độ dư bị, LH. ĐÔI FƯỢNG NGHIÊN CỨU: I. — Chương Hình “Mỗi trưởng xung quanh” của học sinh Mẫu giáo 1, Nghiên cứu một số nhương phúp có thể giúp trẻ khiếm thính tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ cơ bản thông qua các bài học "Mỗi trường xung quanh”, Để tài cấu Rã H3INH-21. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 1.
Phương pháp lịch sử: -_ Nghiên cứu các tài liệu trong và ngoài nước liên quan đến việc dạy ngôn ngữ cho trẻ khiểm thính, đặc biệt các phương pháp đã từng được án dụng tại Trung tim Thuận An và một số trường day trẻ khiếm thỉnh khic. -_ Nghiên cứu tài liệu giảng dạy mỗn “Lam quen mỗi trưởng xung quanh” đảnh cho tuổi Mẫu giáo. Phương pháp sư pham: 3. Quan xát: Xây dựng nội dung phương pháp giảng dạy, đưa và dạy thực nghiệm tại các lớp dự bị, trực tiếp dự giờ, phân tích đánh giá và rút ra kết luận.
Phủng vấn trò chuyện: Với các người làm công túc quản lý, giáu viên trực tiếp dạy lớp và các giáo viên củu các lđp liên hệ. Nghiên cửu sản phẩm: Thu thập các loại bài tập kiểm tra của nhiều đối lượng để so sánh đánh giá rút kinh nghiệm và sữa chữa nội dung tài liệu cho phù hap hơn. V, NỘI DUNG VÀ TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN: I. Ti thing 3 dén thing 8 năm 2004: Xây dựng để cương nghiên cửu và để cương tư liệu tham khảo, tìm tư liệu, 3, Từ tháng 9 năm 2004 đến tháng 5 năm 2005 sấp xếp nội dung chương trình, in thử sản phẩm và dạy thực nghiệm tại Trung tâm Thuận An.
— Từ tháng 6 năm 2005 đến tháng 8 năm 2005 rút kinh nghiệm, sữa chữu. xây dựng giáo án mẫu. Tữtháng 9 nam 2005 đến tháng l2 năm 2005: Gửi tài liệu đến các trường day thử nghiệm và đóng gúpý kiến. Kỹ Tit thang Of dén thang 03 năm 3005 hoàn thiện báo cáo khoa học.
6, — Từ tháng 4 đến thắng 5 năm 2006 nghiêm thu để tài. 6 tê cấp CHƯƠNG II N TRÌNH XÂY DỰNG SẢN PHẨM So xánh vi: p thu ngôn ngữ của trẻ khiếm thính và trẻ nghe bình. thường: 1 Ngôn ngữ. Ngôn ngữ là “hẻ ding exc âm thanh, cúc từ nại và các quà tắc két hop chúng làm phương tiện giao tiếp chung cho một công đồng"` „ Hệ thống ngôn ngữ ext bản là xổ vốn ngôn ngữ nến tả thể sử dụng trong việc giao tiếp với một hay nhiều đối tượng cũng xử dụng hệ thống ngôn ngữ này Ngày cá đối với một trế nghe được thì tiểng nói không phải là bẩm xinh.
cũng không phải là thành quả của một ngày, nó cẩn thiết “Phải cớ smớt mãi trường nào đủ thì chức năng ngôn ngữ mới củ thể thiết lập được” AM." Vay mot trating là gì” Mi trường: Theo nghĩa tổng quát do tự điển cung cấp thì "Mới trang là tất cả những gì bao quanh xinh vật. tất cả các ố vỏ xinh và liều sinh, có tác dung trie tiếp trên sự sinh §ổng, phát triển vũ sinh hoạt." Nghia ny qua rong lận. trong phạm vì của bài nghiên cứu này chúng tồi chỉ giới hạn ở "môi trường xung quanh” bào gốm "những tác nhân trực tiếp hoặc gián tiếp tác đôngt xứ phát triển và xử dung ngôn ngữ của trẻ như gia đình, lớp học. các sinh vất, phường tiền gắn g tức động qua lại trong đời xối hằng ngày.” Davie daca nei Veen "Nguyễn Như Ý chủ Miền, HGDxš DỊ, Nhà xuất kànVăn a ts Äokc d2 b1stee.ooilrritlrdee3g-ATIBIIE-TheEie BếN nhe Das hc inp Viết Ngoyễn Nhự Ÿ chủ biến, NGDYš DỊ.
Nhĩ xuất kí 7 Đài ấp Bộ 8204. Trẻ bình thường bắt đầu tiếp ngôn ngữ khi cơ thể các em bắt đầu phản ứng. với âm thanh, tức là lúc trẻ bắt đầu nghe được. Ngày nay nhiều nhà khoa học.
chứng minh rằng trẻ đã bắt đầu nghe được từ tháng thứ tư của thai kỳ và người ta khuyên cha mẹ trẻ nên chuyện tò, hoặc cho trẻ nghe nhạc ngay khi trở còn trong bung mẹ. Như vậy, một cách nào đó có thể nói rằng trẻ có thính giác toàn vẹn tiếp thủ ngôn ngữ từ rất sớm. Điểu này giải thích cho ta hiểu tại sao một em bé có thể hiểu những gì người khác nói, hoặc yêu cầu em thực hiện những động tác như chỉ im xấu. rất sớm trước khi em bật thành tiếng nói để biểu lộ cho.
người khác ý tưởng của mình. Kết quả nghiền cứu của nhiều nhà ngôn ngữ học đã cho thấy qud trình tiếp nhận âm thanh thì phức tạp hơn quá trình xử dụng âm thanh rất nhiéu’, (Learning and practicing), Voi trẻ khiếm thính thì quá trình này châm đi rất nhiều vì đù sao em cũng không nghe được âm thanh, từ ngữ trong giai đoạn ở trong bụng mẹ, rồi lại phải mất một thời gian nữa (tầy theo trình độ hiểu biết của cha mẹ và người thân) sự khiếm thính mới được phát hiện. Sự mất thính giác gây thương tổn cho việc phát triển cả một toàn bộ những tài năng và tập quản liên quan đến việc thực tập và sit dụng ngôn ngữ. Nó cũng không có lợi cho việc phát huy nhân cách con người một cách hài hoà.” Đồng thời ta cũng không thể xếp các em khiếm thính đồng loạt như nhau, vì só rất nhiều yếu tố chủ và khách quan chỉ phối tác động trên từng cá nhân táo ra một sự khác biệt khá lớn trong việc học tập và tiếp thu ngôn ngữ của các em.
Ngày xưa Colin nói đến sự khác biệt đầu tiên là mức nặng nhẹ của sự mất thính giác và thời gian sớm hay muộn của việc phát sinh ra chứng đi c.