Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề lý luận về tăng động giảm chú ý 1. Khái niệm và các thuộc tính của chú ý Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Lũy, Đinh Văn Vang trong giáo trình “Tâm lí học đại cương” Chú ý là sự tập trung của ý thức vào một nhóm sự vật hiện tượng để định hướng hoạt động, đảm bảo điều kiện thần kinh – tâm lý cần thiết cho hoạt động được tiến hành có hiệu quả. Chú ý có các thuộc tính cơ bản như sức tập trung của chú ý, khối lượng chú ý, sự phân phối chú ý, sức bền, sự di chuyển chú ý [38].
“Sức tập trung của chú ý là khả năng chỉ chú ý đến một phạm vi đối tượng tương đối hẹp cần thiết cho hoạt động tại thời điểm đó”. Ví dụ, khi cô giáo hát mẫu 1 bài hát, trẻ sẽ tập trung chú ý lắng nghe khoảng 2 phút, sau đó sẽ phân tán. Lúc này, muốn thu hút trẻ vào hoạt động dạy học của mình, giáo viên cần thay đổi trạng thái hoạt động, hình thức hoạt động để thu hút sự chú ý của trẻ. “Khối lượng chú ý: số lượng các đối tượng mà chú ý hướng tới gọi là khối lượng chú ý” [38].
“Sự phân phối chú ý là khả năng cùng một lúc chú ý đầy đủ đến nhiều đối tượng hoặc hành động khác nhau” [38]. “Tính bền vững của chú ý là khả năng chú ý lâu dài vào một số đối tượng nhất định mà không chuyển sang đối tượng khác. Khách quan (đối tượng): tính chất, đặc điểm của vật kích thích. Vật kích thích càng cố định, đơn điệu thì sự chú ý càng kém bền vững” [38].
Chủ quan của từng người: tinh thần trách nhiệm, lòng nhiệt tình, 12 trình độ, năng lực, sức khoẻ. Chẳng hạn như trong thời gian một hoạt động âm nhạc diễn ra, bao giờ cũng có độ dài và độ trễ nhất định. Giữa những khoảng cách đó, nếu giáo viên không chủ động thay đổi hình thức tương tác với trẻ hoặc đưa ra các yêu cầu/ tình huống/ câu hỏi thì sẽ không thể thu hút trẻ vào các hoạt động tương tác với mình. “Sự di chuyển của chú ý: Là sự di chuyển chú ý từ đối tượng này sang đối tượng khác.
Nó thể hiện tính mềm dẻo, linh hoạt của chú ý rất cần trong hoạt động của con người: nhanh nhẹn, hoạt bát, khẩn trương, bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ trong những điều kiện khó khăn, phức tạp” [38]. Ví dụ khi xem một chương trình biểu diễn, trẻ có thể vừa chú ý đến nhân vật chơi đàn vừa nghe được ca sĩ hát, hoặc quan sát được phần minh họa (múa, nhảy, vận động theo nhạc) của các nhóm. Khái niệm rối loạn tăng động giảm chú ý Rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) là một hội chứng bao gồm không chú ý, hiếu động thái quá và hấp tấp, bốc đồng. 3 dạng ADHD chủ yếu là giảm chú ý, tăng động / bốc đồng, và kết hợp cả hai dạng trên.
Chẩn đoán dựa vào các tiêu chuẩn lâm sàng. Điều trị thường bao gồm điều trị bằng thuốc hướng thần, liệu pháp hành vi, và các can thiệp giáo dục [54]. Các nét đặc trưng chính của chúng là thiếu kiên trì trong các hoạt động đòi hỏi sự tham gia của nhận thức, và khuynh hướng chuyển từ hoạt động này qua hoạt động khác nhưng không hoàn thành cái nào cả, kết hợp với một hoạt động quá đáng thiếu 13 tổ chức. Sự thiếu sót này thường kéo dài trong suốt quá trình đi học và sang cả tuổi thành niên.
Như vậy, dựa trên các khái niệm về trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý của các nhà nghiên cứu, chúng tôi cũng nhận thấy những biểu hiện của trẻ ADHD trong quá trình dạy học âm nhạc, với những biểu hiện như khó tập trung chú ý, hiếu động, khó ghi nhớ, và thiếu tính kiên trì… khi nghe các yêu cầu và lời giảng giải của giáo viên thường khó ghi nhớ hoặc có ghi nhớ nhưng lại mau quên và phân tán sang hoạt động khác. Tăng động và xung động “Tăng động ở trẻ được biểu hiện bằng tăng vận động thô như chạy nhảy, chèo leo quá nhiều”. Những trẻ này thường luôn hoạt động, trẻ “chạy nhảy như một cái động cơ”, khó ngồi yên. Những trẻ lớn hơn thì có cảm giác cực kỳ bồn chồn, bứt rứt.
Trong các tình huống mà tất cả các trẻ em đều bộc lộ mức độ vận động cao, ví dụ chơi trong sân trường, thì khó quan sát được tăng động. Sự bồn chồn không yên trong đặc điểm tăng động của trẻ không chỉ là hiếu động mà còn chạy ra mà còn chạy ra khỏi chỗ ngồi, phá phách trong lớp học. Như vậy những trẻ có mức độ hoạt động cao và những hành vi phá phách cao mới là điểm phân biệt giữa trẻ rối loạn TĐGCY và trẻ bình thường. Nói về Xung động, người ta đã sử dụng các câu hỏi sau để phân biệt xung động trong quần thể: Trẻ có kiên nhẫn chờ đợi đến lượt trong khi tham gia trò chơi hay các tình huống hoạt động nhóm không? Trẻ có vội vàng trả lời khi chưa nghe hết câu hỏi không? Trẻ có khó tập trung chơi yên tĩnh không? Trẻ có ngắt lời, phá đám các bạn khác không? (ví dụ như đập bài đạp ghế gây sự chú ý với mọi người xung quanh).
Thậm chí trẻ tham gia các hoạt động nguy hiểm mà không quan tâm hậu quả. Những hiện tượng trên gây ảnh hưởng sâu sắc đến việc lĩnh hội học 14 vấn, ảnh hưởng đến các mối quan hệ gia đình, nhà trường và xã hội. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu trẻ tăng động trên thế giới Theo tác giả Hoàng Thị Thu Thảo, hiện tượng trẻ ADHD đã được biết đến từ rất sớm. “Thật vậy 2500 năm trước nhà khoa học, vật lí học Hypocrate đã miêu tả tình trạng mà ta có thể so sánh với những cái mà ngày nay chúng ta biết về ADHD” [30].
Người đầu tiên đề cập đến vấn đề này là bác sĩ người Đức HeinRich Hoffmann (vào đầu những năm 40 của thế kỷ XIX) trong tác phẩm Peter luộm thuộm. Ở đây tác giả mô tả về nhân vật mà ông gọi là “Thằng Philip điên rồ”- một trong những bệnh nhi đã được ông quan sát trong quá trình làm việc của mình [30]. Vào những năm 1898, Kreapelin (ở Pháp) đã mô tả một dạng nhân cách bệnh lí với cái tên “nhân cách bồn chồn không yên” (psychopathes instables): với những rối loạn về tính cách, tự cho mình là trung tâm, hay tự ái, hay đòi hỏi, hay thay đổi về khí sắc. Năm 1901, những nhận định về trẻ em “múa giật tâm thần” (chorée mentale) có đặc điểm bồn chồn không yên: Cảm xúc mất thăng bằng, thiếu ức chế và chú ý, có nhu cầu không ngừng vận động và thay đổi cả về lời nói và cử động [30].
Still vào năm 1902 cũng đã mô tả hành vi của nhóm những đứa trẻ tăng động ở triệu chứng lâm sàng. Điển hình là “khả năng kiềm chế hành vi kém”. Điều này thường là do khả năng tư duy kém, không có tính mục đích hoặc thiếu khả năng kiểm soát. Song, do chưa tìm ra nguyên nhân sinh học dẫn đến những biểu hiện hành vi của trẻ tăng động nên tác giả không đưa được ra những chỉ định về hướng giáo dục chuyên biệt trong nhà trường công cũng như việc rèn luyện kĩ năng xã hội cho những trẻ này [30].
Đến năm 1938, công trình nghiên cứu của Lewin sau khi được công bố đã thu hút sự chú ý của động đảo những người quan tâm. Trong bài viết, 15 tác giả đã khẳng định rằng: “Trạng thái bồn chồn không yên ở những người chậm khôn (và cả trên động vật) có căn nguyên do tổn thương não bộ. Từ đó nguyên nhân tổn thương thực thể não dẫn đến tăng động giảm chú ý càng được khẳng định chắc chắn hơn”. Cùng thời điểm này, một số nhà lâm sàng đã đưa ra lập luận cho rằng, không nên chỉ qua quan sát hành vi của trẻ mà đưa ra kết luận là chúng có tổn thương thực thể não.
Việc kết luận có tổn thương não hay không chỉ có thể đưa ra, được minh chứng một cách rõ ràng sau khi đã khám xét lâm sàng cùng với các kết quả cận lâm sàng. Cũng do theo quan điểm trên nên đã xuất hiện ý tưởng cho rằng, nguyên nhân dẫn đến hành vi kém thích nghi ở trẻ có thể do môi trường tác động [31]. Năm 1947, Strauss và cộng sự ở Mỹ đã đưa ra khái niệm “Hội chứng tổn thương não tối thiểu” (Minimal Brain Damage Syndrome) để mô tả những trẻ chậm phát triển trí tuệ có tăng động, dễ sao lãng chú ý, xung động bướng bỉnh và có thiếu hụt về nhận thức. Năm 1948, có một số nghiên cứu lại chỉ ra rằng “chứng hiếu động là hậu quả tổn thương não trong thời kì mang thai, thời kì sinh nở, thời kì trẻ sơ sinh”.
Trong thời kỳ này các nguyên nhân có thể gây tổn thương tới não bộ, nếu nặng có thể xuất hiện di chứng như trở ngại về trí lực hoặc não bị tê liệt. nếu bị nhẹ có thể khiến cho đứa trẻ sinh ra có biểu hiện khả năng tự chống chế kém, khi học không tập trung chú ý, dễ bị phân tán, học tập khó khăn. Quan điểm này cũng được Gesell thừa nhận, “vào năm 1949 ông đã chỉ ra rằng đây là loại tổn thương não dạng nhẹ, ông còn gọi là tổn thương não tối thiểu (MBD)” [22]. Vào những năm 1962, Clement và Peter đã đưa ra thuật ngữ “rối loạn chức năng não tối thiểu” (Mimimal Brain Dysfunction- MBD).
Người ta sớm nhận ra rằng khái niệm MBD còn thiếu những chẩn đoán đặc trưng và bao gồm cả nhiều trẻ với các bệnh khác nhau nhưng có một số đặc điểm 16 lâm sàng tương tự nhau. Thêm vào đó MBD ám chỉ trực tiếp sự tổn thương não gây ra các rối loạn hành vi, nhưng những tổn thương này lại không được chứng minh về mặt bệnh sinh của rối loạn. Tiếp theo, đến những năm 70 của thế kỷ XX, các nhà thần kinh học còn đi sâu khám phá ra việc rối loạn chức năng của các chất sinh hóa học trong dịch não dẫn đến hội chứng MBD, gián tiếp gây ra tăng động giảm chú ý [41]. Năm 1965, Tổ chức y tế thế giới (WHO) đưa ra công trình Phân loại bệnh quốc tế IX và tập chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần, biên soạn lần thứ ba (DSM- III) của Hội tâm thần Mĩ”.
Trong những công trình đó, tăng động giảm chú ý được coi là hội chứng có ở trẻ nhỏ.