Chương 1 Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chƣơng 1 trình bày và đƣa ra tổng quan về lý do chọn đề tài và tính cấp thiết của đề tài so với tình hình thực tiễn, xác định mục tiêu nghiên cứu của cả bài, các câu hỏi nghiên cứu chuẩn xác, đối tƣợng, phạm vi và phƣơng pháp nghiên cứu tiến hành, đồng thời nêu rõ ý nghĩa và kết cấu của từng phần trong đề tài Chương 2 Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất Chƣơng 2 trình bày nội dung tổng quan các lý thuyết tổng quan, cơ sở lý luận, mô hình nghiên cứu và kết quả của một số nghiên cứu trƣớc đây có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Từ đó, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến quyết định mua nông sản sạch của ngƣời tiêu dùng tại BHX trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Chương 3 Thiết kế mô hình nghiên cứu Chƣơng 3 Thiết kế tiến trình nghiên cứu, thiết kế thang đo, cấu trúc bảng câu hỏi, phƣơng pháp nghiên cứu, tiêu chí lựa chọn mẫu, cách thực hiện và các phƣơng pháp phân tích dữ liệu.
Chương 4 Nhận xét về kết quả nghiên cứu Chƣơng 4 Tác giả sẽ phân tích dữ liệu thu thập, các kết quả phân tích và loại bỏ sẽ đƣợc trình bày cụ thể nhằm giải thích, kiểm định sự khác biệt của đặc điểm nhân khẩu học, kiểm định giá trị các thang đo, mô hình và giả thuyết nhằm tìm ra các yếu tố và đo lƣờng chính xác mức độ các nhân tố ảnh hƣởng đến quyết định mua nông sản sạch của ngƣời tiêu dùng tại BHX trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. 6 Chương 5 Kết luận và hàm ý quản trị Dựa trên kết quả nghiên cứu, chƣơng 5 sẽ đƣa ra kết luận về kết quả, những nhận định chung và đƣa ra một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh nông sản sạch cho Bách hóa xanh trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
Bên cạnh đó đƣa ra những hạn chế của đề tài và hƣớng nghiên cứu tiếp theo. 7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT 2.1 Tổng quan lý thuyết về nông sản sạch 2.1 Khái niệm nông sản Theo VFGAP, khái niệm nông sản đƣợc hiểu là những sản phẩm, thành phẩm từ ngành sản xuất hàng hóa. Nó đƣợc tạo ra thông qua quá trình trồng trọt và sự phát triển của cây trồng. Nông sản là khái niệm rất rộng.
Có rất nhiều mặt hàng từ quá trình sản xuất nông nghiệp.2 Khái niệm nông sản sạch Nông sản sạch là những loại nông sản thu đƣợc từ quy trình sản xuất theo các tiêu chuẩn nhất định. Nó bao gồm việc hạn chế thấp nhất hoặc không sử dụng phân hóa học, chất kích thích, thuốc trừ sâu. Nông sản thu đƣợc phải đảm bảo không chứa dƣ lƣợng chất hóa học, kim loại nặng có ảnh hƣởng đến sức khỏe ngƣời tiêu dùng.3 Vai trò của nông sản Nông sản là nhu cầu thiết yếu trong đời sống con ngƣời. Nó đảm bảo sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế cũng nhƣ mọi mặt của văn hóa - xã hội.
Đây là một loại hàng hóa đặc biệt. Nhờ có nó mà con ngƣời mới có thể sống, tồn tại và phát triển. Nó ảnh hƣởng trực tiếp đến cuộc sống của mỗi ngƣời, vì hàng ngày ai cũng cần thức ăn và nƣớc uống mà nông sản là một phần lớn trong thực phẩm. Xã hội càng văn minh thì chất lƣợng của nông sản cũng vì thế mà tăng lên không ngừng.
Trƣớc đây Việt Nam chỉ là một nƣớc nông nghiệp lạc hậu. Nông dân làm ra nông sản với mục đích tự cung, tự cấp cho chính cuộc sống gia đình hoặc một phần đƣợc bán ra trong phạm vi không gian hẹp.4 xLợi ích của nông sản sạch Lợi ích đối với nhà nông Giúp nhà nông có cơ hội học hỏi và đào tạo từ chuyên gia nông nghiệp. Khi chuyển đổi từ canh tác truyền thống sang phƣơng thức hiện đại, ứng dụng công nghệ và kỹ thuật cao, nông hộ sẽ đƣợc hỗ trợ và hƣớng dẫn về mặt kiến thức bởi đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm từ tổ chức tiêu chuẩn mà nông hộ đăng ký. Với thời gian đào tạo và làm việc cùng chuyên gia, nhà nông có thể tự tin học hỏi, thử nghiệm nhiều ứng dụng mới để nâng cao hiệu quả và hiệu suất công việc.
Bởi vậy, sản xuất nông sản sạch là cơ hội tuyệt vời cho các nông hộ hay giới trẻ nhiệt huyết với nông nghiệp tìm hiểu sâu hơn về nông nghiệp hiện đại - nông nghiệp 4. Hơn thế nhà nông còn có thể đảm bảo đƣợc doanh thu và đầu ra ổn định. Một sản phẩm đƣợc chứng nhận là “nông sản sạch” đồng nghĩa nó đang đƣợc đảm bảo về chất lƣợng và niềm tin đối với ngƣời tiêu dùng. Không chỉ thị trƣờng trong nƣớc nhƣ hệ thống siêu thị, đại lý sản phẩm sạch mà cả thị trƣờng nƣớc ngoài cũng luôn sẵn sàng rộng mở chào đón những nông sản này lên kệ.
Tuy nhiên, ở mỗi thị trƣờng, nông sản lại cần đáp ứng một số yêu cầu và tiêu chuẩn nhất định riêng. Ngoài ra, một lợi ích ít ngƣời nhận thấy khi ứng dụng nông nghiệp sạch chính là an toàn thực tế trong sản xuất cho nhà nông. Hoạt động canh tác truyền thống thƣờng sử dụng nhiều thuốc bảo vệ thực vật, kích thích tăng trƣởng ảnh hƣởng xấu tới sức khỏe con ngƣời. Ngƣời đầu tiên nhận hậu quả từ các loại hóa chất đó không ai khác ngoài nhà nông trực tiếp tiếp xúc và sử dụng chúng.
Các tiêu chuẩn sản xuất nông nghiệp sạch giúp giảm thiểu lƣợng hóa chất sử dụng, đồng thời, yêu cầu nghiêm ngặt về tần suất sử dụng và bảo hộ lao động cho nhà nông khi tƣơng tác với hóa chất. Lợi ích đối với doanh nghiệp 9 Nông sản sạch giúp doanh nghiệp ổn định đầu vào nguyên liệu và dễ dàng kiểm soát đầu ra. Trong mỗi vụ mùa, doanh nghiệp chia sẻ chung nỗi lo mất mùa hay chất lƣợng nông sản thấp với nhà nông. Nhƣng khi ứng dụng nông sản sạch, nhà nông có thể kiểm soát hoặc dự đoán các thông số về sản lƣợng và chất lƣợng của sản phẩm trƣớc khi thu hoạch.
Nhờ vậy, doanh nghiệp cũng phần nào dự trù về lƣợng đầu vào nông sản và kiểm soát rủi ro trong trƣờng hợp hoạt động sản xuất của nông hộ gặp bất trắc. Tại Việt Nam, truy xuất nguồn gốc sản phẩm chƣa đƣợc ứng dụng nhiều, tuy nhiên, ở thị trƣờng nƣớc ngoài, ứng dụng này đã khá phổ biến và đây là một quy định bắt buộc cho nông sản sạch. Với ứng dụng này, mọi dữ liệu về nông sản trên hành trình từ giống cây tới thành phẩm khách hàng sử dụng đều đƣợc lƣu trữ minh bạch. Khi bất cứ vấn đề gì phát sinh liên quan tới thành phẩm, doanh nghiệp sẽ có thể truy xuất lại thông tin và tìm ra bên chịu trách nhiệm chính xác cho vấn đề, thay vì chịu hoàn toàn trách nhiệm nhƣ trƣớc kia.
Lợi ích đối với người tiêu dùng. Với ngƣời tiêu dùng, lợi ích rõ rệt nhất họ nhận đƣợc là nguồn sản phẩm đảm bảo chất lƣợng. Từ trang trại tới nơi sản xuất, nông sản sạch đều phải trải qua các quy định nghiêm ngặt nhằm duy trì chất lƣợng tiêu chuẩn. Vì vậy, dù ngƣời tiêu dùng sử dụng nông sản trực tiếp nhƣ rau quả tƣơi hay đã qua chế biến, họ vẫn có thể hoàn toàn yên tâm đã chọn lựa đƣợc sản phẩm an toàn cho sức khỏe bản thân và gia đình.
Những nông sản sạch thƣờng đƣợc phân phối trong các hệ thống siêu thị, đại lý uy tín với cơ chế tính giá có lợi nhất cho ngƣời sử dụng. Ngƣời tiêu dùng không cần “bán tín bán nghi” liệu mình có bị nói thách hay bận tâm về việc mặc cả nhƣ khi mua tại những địa điểm buôn bán tự do. Ngoài ra, khi thị trƣờng tiêu dùng biến động đột 10 ngột ảnh hƣởng đến giá, nông sạch tại cơ sở phân phối thƣờng đƣợc chính phủ trợ giá với chƣơng trình “Bình ổn giá” để ngƣời dân an tâm tiêu dùng. Lợi ích cho nền nông nghiệp Việt Nam.
Nền kinh tế Việt Nam đang chuyển dịch theo hƣớng hiện đại hóa với ứng dụng công nghệ cao đa ngành. Để bắt kịp với hƣớng phát triển chung, ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất là điều tất yếu với nền nông nghiệp nƣớc nhà, không chỉ nông nghiệp sạch mà nhiều quy trình canh tác hiện đại khác nhƣ thủy canh, khí canh. Nói riêng về nông sản sạch, sản lƣợng càng tăng trƣởng, chúng ta càng có đầu vào mở rộng cho xuất khẩu ra các thị trƣờng quốc tế. Nhờ vậy, nền nông nghiệp kích thích doanh thu, đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế nƣớc nhà.2 Khái niệm về ngƣời tiêu dùng Ngƣời tiêu dùng là ngƣời cuối cùng sử dụng, tiêu dùng hàng hóa, ý tƣởng, dịch vụ nào đó.
Ngƣời tiêu dùng cũng đƣợc hiểu là ngƣời mua hoặc ra quyết định nhƣ là ngƣời tiêu dùng cuối cùng (theo Hiệp hội Marketing Mỹ). Ngƣời tiêu dùng là ngƣời mua hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sinh hoạt cá nhân và sinh hoạt gia đình… (theo Điều 3 Luật bảo vệ ngƣời tiêu dùng năm 1999 của Malaysia). Ngƣời tiêu dùng là ngƣời mua hàng hóa hoặc dịch vụ hoặc đƣợc chào mua hàng hóa và dịch vụ từ một ngƣời kinh doanh, bao gồm ngƣời thực sự sử dụng hàng hóa, tiêu thụ dịch vụ có nguồn gốc từ ngƣời kinh doanh mặc dù ngƣời này không trực tiếp trả tiền cho việc sử dụng hàng hóa, tiêu thụ dịch vụ đó ( theo điều 3 Luật Bảo vệ ngƣời tiêu dùng Thái Lan năm 1979). Tại Việt Nam, khái niệm ngƣời tiêu dùng (trong nghiên cứu này viết tắt là NTD) lần đầu tiên đƣợc ghi nhận chính thức tại Điều 1 Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD năm 1999.
Theo đó, “NTD là ngƣời mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng 11 sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức”. Cho đến năm 2010, khi Luật bảo vệ quyền lợi NTD đƣợc ban hành thay thế cho Pháp lệnh nói trên thì khái niệm này lại tiếp tục đƣợc ghi nhận tại Khoản 1 Điều 3 của Luật này và nội dung không có sự thay đổi. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, NTD bao gồm các đối tƣợng không chỉ là cá nhân tiêu dùng riêng lẻ mà còn là các tổ chức 3 (nhƣ doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nƣớc, hiệp hội ngành nghề, tổ chức xã hội…) tiến hành mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình hoặc tổ chức đó.