Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài • Chương 2: Cơ sở lý thuyết: Sơ lược tổng quan lý thuyết về người ảnh hưởng, mỹ phẩm chăm sóc da mặt, thế hệ Z và các yếu tố người ảnh hưởng tác động đến hành vi mua mỹ phẩm chăm sóc da mặt của thế hệ Z • Chương 3: Thiết kế nghiên cứu: Miêu tả lại quá trình thực hiện nghiên cứu và thiết kế thang đo thích hợp cho các yếu tố người ảnh hưởng tác động đến hành vi mua mỹ phẩm chăm sóc da mặt cho thế hệ Z tại thị trường Thành phố Hồ Chí Minh. • Chương 4: Phân tích kết quả và diễn giải kết quả đã nghiên cứu: Trình bày kết quả thu được và phân tích các yếu tố ảnh hưởng từ mô hình nghiên cứu, đánh giá mức độ phù hợp và mức độ quan trọng của các yếu tố. • Chương 5: Kết quả và hàm ý quản trị: Đưa ra kết quả và hàm ý quản trị cho các nhãn hiệu đang kinh doanh mỹ phẩm chăm sóc da mặt. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.
NGƯỜI ẢNH HƯỞNG (INFLUENCERS) VÀ HÀNH VI MUA CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG 2. Khái niệm về người ảnh hưởng (Influencers) Để hiểu về đề tài, trước tiên ta cần nắm được khái niệm người ảnh hưởng (influencers) là gì? Theo Fredberg, những người ảnh hưởng (influencers), là một trung gian giữa khách hàng và doanh nghiệp, có khả năng định hình thái độ của khán giả thông qua các bài viết đánh giá (blogs), các video trên nền tảng mạng xã hội. Bằng các công cụ như Facebook, Instagram, twitter, Youtube… Người ảnh hưởng (influencers) có thể đăng tải các nội dung nhằm mục đích chiêu thị cho sản phẩm của các nhãn hàng mà họ hợp tác cùng. Người ảnh hưởng (influencers) có sức ảnh hưởng càng cao, càng thu hút sự chú ý của thương hiệu trong quá trình tìm kiếm gương mặt đại diện (Tô Linh, 2021).
Trang cá nhân của người ảnh hưởng (influencers) sẽ trở thành một kênh trung gian giúp liên kết doanh nghiệp với khách hàng trực tiếp, dễ dàng hơn. Từ đó, influencers tiến hành chiêu thị sản phẩm cho các nhãn hàng bằng cách làm cho hình ảnh đời thường có sự liên kết đến sản phẩm. Phân loại người ảnh hưởng (Influencers) Theo nghiên cứu của trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Có 2 cách để phân loại influencers như sau: 2. Dựa vào lĩnh vực hoạt động Nếu xét theo phương diện lĩnh vực mà những người ảnh hưởng tham gia vào thì có thể chia thành 5 nhóm như sau: • Người ảnh hưởng chuyên gia (Professional Influencer) • Người nổi tiếng (Celebrity) • Người ảnh hưởng của cộng đồng (Citizen Influencer) • Trang nhân vật hư cấu (Fictional Character Fanpage) • Trang cộng đồng (Community Fanpage) 7 Người ảnh hưởng chuyên gia (Professional Influencer): Là những chuyên gia có chuyên môn riêng hoạt động trong một lĩnh vực cụ thể như: Nam Phương, Uy Lê (lĩnh vực hài độc thoại); Changmakeup, Chloe Nguyễn (lĩnh vực làm đẹp); Trác Thúy Miêu (lĩnh vực báo chí)… Người nổi tiếng (Celebrity): Đây là nhóm người nổi tiếng được nhiều người biết đến, hoạt động trong thị trường giải trí với lượng người hâm mộ đông đảo: Ninh Dương Lan Ngọc, Minh Tú, Bích Phương,… Người ảnh hưởng của cộng đồng (Citizen Influencer): Là những người ảnh hưởng không hoạt động trong một lĩnh vực chủ chốt nào nhưng vẫn có sức ảnh hưởng nhờ vào những đặc trưng riêng (ngoại hình, tính cách): Phạm Trang (Chan Chan), Linh Ngọc Đàm, Bông Tím… Trang nhân vật hư cấu (Fictional Character Fanpage): Là những trang được tạo ra từ mục đích cá nhân hoặc cộng đồng trên nền tảng mạng xã hội với điểm đặc biệt là các nhân vật được xây dựng hư cấu có tính cách và nét đặc trưng riêng đại diện cho trang: Cám chăm chỉ, Đậu đỏ, Tzuki… Trang cộng đồng (Community Fanpage): Cũng là những trang được tạo ra nhằm mục đích cá nhân hoặc cộng đồng được nhiều người theo dõi trên nhiều trang mạng xã hội lớn: Yan News,Welax, VKR News,… 2.
Dựa vào lượng người theo dõi Dựa vào số lượng người theo dõi mà Influencers đạt được sau một thời gian có thể phân ra làm 4 mức độ: • Người nổi tiếng (Celebrity) • Người ảnh hưởng rất lớn (Macro Influencer) • Người ảnh hưởng tầm trung (Power Middle Influencer) • Người ảnh hưởng rất nhỏ (Micro Influencers) Người nổi tiếng (Celebrity): Giống như nhóm người nổi tiếng được phân loại theo lĩnh vực hoạt động. Là một cá nhân hoặc một nhóm được nhiều người biết đến thường hoạt động trong lĩnh vực giải trí. Người nổi tiếng có thương hiệu cá nhân và một cộng đồng người 8 hâm mộ đông đảo (từ 1 triệu người trở lên). Người nổi tiếng thường thích hợp để làm đại sứ thương hiệu để tạo nên hình mẫu riêng cho dòng sản phẩm của nhãn hàng.
Điển hình của nhóm này là: Đông Nhi, Trấn Thành, Tóc Tiên… Người ảnh hưởng rất lớn (Macro Influencer): Được định nghĩa là những chuyên gia chuyên về một mảng nhất định. Họ thường là người tiên phong tạo ra những trào lưu cho người theo dõi với lượng người hâm mộ từ 250. Đại diện nhóm này là: Chloe Nguyễn, Trang Ngô (Changmakeup), An Phương (letsplaymakeup)… Người ảnh hưởng tầm trung (Power Middle Influencer): Là những người có sự tương tác vừa đủ với người hâm mộ. Lượng người theo dõi nằm trong khoảng 10.
Nhóm này có khả năng giúp tăng độ nhận biết về nhãn hiệu. Tuy nhiên, tùy thuộc vào quan điểm của mỗi influencer sẽ có cách trình bày thông điệp của nhãn hàng khác nhau. Điều này sẽ giúp người theo dõi dễ dàng tiếp thu và hiểu được thông điệp mà doanh nghiệp muốn truyền đi là gì. Ví dụ như: Hannah olala, Thai Ha, Thanh Trần,… Người ảnh hưởng rất nhỏ (Micro Influencer): Là những người có mức độ ảnh hưởng thấp nhất với lượng người theo dõi thường thấp hơn 10.
Thường là nhóm có quan hệ thân thiết nhất với người hâm mộ. Nhóm này chiếm số lượng đông đảo với một số đại diện tiêu biểu như: Hi mey, Mai Vân Trang… 2. Hành vi mua của người tiêu dùng 2. Lý thuyết về hành vi mua của người tiêu dùng Theo Philip Kotler và Kevin Keller định nghĩa, hành vi của người tiêu dùng là bao gồm những hành vi chọn lựa, mua, sử dụng và loại bỏ sản phẩm, dịch vụ nhằm thỏa mãn những nhu cầu của khách hàng.
Theo Philip Kotler, quá trình ra quyết định mua hàng là một chuỗi 5 bước các hành động giúp người tiêu dùng ra quyết định mua một sản phẩm hoặc sử dụng một dịch vụ nào đó cụ thể: Ý thức nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá các lựa chọn, quyết định mua hàng, hành vi sau khi mua. 9 Ý thức Tìm kiếm Đánh giá các Quyết định Đánh giá sau nhu cầu thông tin phương án mua sắm khi mua Hình 2. Quy trình ra quyết định mua sắm của khách hàng Nguồn: Philip Kotler (2001) Ý thức nhu cầu: Để cho ra một quyết định mua, khách hàng cần hình dung ra sản phẩm/dịch vụ mình muốn mua và vì sao mình phải mua nó. Đây là giai đoạn các tác nhân bên trong hoặc bên ngoài sẽ ảnh hưởng đến con người giúp tạo ra nhu cầu.
Thông thường hành vi mua mỹ phẩm chăm sóc da mặt đến từ nhu cầu muốn làm đẹp, khắc phục làn da gặp nhiều vấn đề như: lão hóa, đen sạm, mụn… Các nhãn hàng cần tập trung xác định nhu cầu hoặc là cải thiện da hoặc là làm đẹp sao cho phù hợp với sản phẩm của mình để từ đó xây dựng các chiến lược marketing cần thiết. Tìm kiếm thông tin: Sau khi xác định được nhu cầu, người tiêu dùng sẽ tìm kiếm thông tin thông qua các nguồn như: nguồn thông tin bên trong (gia đình, người thân, bạn bè…), nguồn thông tin bên ngoài (phương tiện truyền thông đại chúng, mạng xã hội…), hoặc từ trải nghiệm của bản thân. Đặc biệt theo một báo cáo của Vero, người tiêu dùng tin tưởng nhất là nhóm nguồn thông tin bên trong. Do vậy, ý kiến từ người thân bạn bè sẽ ảnh hưởng họ rất nhiều khi ra quyết định mua hàng.
Bên cạnh đó, nhóm mà thế hệ Z ít đặt niềm tin nhất là nhóm quảng cáo trên radio. Đánh giá các lựa chọn: Sau khi đã tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn và hiểu được đặc tính cũng như công dụng của từng loại mỹ phẩm, người tiêu dùng cần xác định loại nào phù hợp với bản thân theo những tiêu chí tự đặt ra như: giá cả, thành phần của sản phẩm, vấn đề của da, thương hiệu… Quyết định mua hàng: Việc mua hàng sẽ dựa trên những quyết định về thời gian mua, số lượng mua, mẫu mã sản phẩm, thiết kế bao bì, phương thức vận chuyển và thanh toán… Hành vi sau khi mua: Là những đánh giá sau khi dùng sản phẩm. Hoặc là hài lòng hoặc không hài lòng. Nếu hài lòng, khách hàng sẽ tiếp tục quay lại mua và giới thiệu cho những người đang có vấn đề về da mặt giống bản thân sử dụng.
Nếu không hài lòng, sẽ góp ý kiến 10 cho nhãn hiệu về yếu tố khiến mình không thích sản phẩm hoặc sẽ không bao giờ dùng lại sản phẩm này. Thuyết Hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA) Fishbein và Ajzen đề ra thuyết “Hành động hợp lý - TRA” và phát triển nó vào năm 1975, đây được xem như lý thuyết nền cho các nghiên cứu khoa học lên ý định hành vi của người tiêu dùng. Theo mô hình, khi một người thực hiện hành vi, họ sẽ bị chi phối bởi ý định thực hiện hành vi của người đó. Và cũng theo đó, ý định này sẽ chịu ảnh hưởng bởi hai yếu tố: thái độ của cá nhân đối với hành vi và chuẩn mực chủ quan.
Trong đó: Thái độ đối với hành vi là đánh giá của cá nhân đối với việc thực hiện hành vi, có thể là tích cực hoặc tiêu cực. Thái độ sẽ được quyết định bởi sức mạnh của niềm tin mà người tiêu dùng cảm nhận được thông qua sản phẩm và thứ hai là giá trị của niềm tin đó hoặc là tốt, hoặc là xấu sau khi sử dụng sản phẩm. Chuẩn mực chủ quan là nhận thức của những người có ảnh hưởng sẽ nghĩ rằng cá nhân đó nên tiến hành mua hay không nên thực hiện hành vi mua. Chuẩn mực chủ quan lại được quyết định bởi: niềm tin những người có ảnh hưởng tới người tiêu dùng này cho rằng họ nên làm gì và động lực thực hiện hành vi của cá nhân theo suy nghĩ của những người có ảnh hưởng.
11 Sức mạnh niềm tin lên sản phẩm Thái độ cá nhân Đánh giá giá trị niềm tin sau khi sử dụng sản phẩm Ý định thực hiện Hành vi Niềm tin của hành vi những người ảnh hưởng tới cá nhân Chuẩn mực chủ quan Động lực để cá nhân thực hiện hành vi theo người ảnh hưởng Hình 2.