phần mở đầu và kết luận, bố cục dự kiến luận văn gồm 5 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Giới thiệu đề tài: trình bày một số nội dung mang tính chất giới thiệu tổng quan nhƣ sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu, ý nghĩa đóng góp về khoa học, thực tiễn đề tài và cấu trúc của đề tài. Chƣơng 2: Cơ sở lý lthuyết về các yếu tốảnh hƣởng đến quyết định đầu tƣ bất động sản của nhà đầu tƣ cá nhân. Trong chƣơng này, hệ thống hoá một số lý thuyết liên quan đến nội dung nghiên cứu đề tài nhƣ bất động sản, quyết định đầu tƣ BĐS của nhà đầu tƣ cá nhân … đồng thời lƣợc khảo một số nghiên cứu trong và ngoài nƣớc có liên quan đến đề tài, làm cơ sở cho tác giả xác định giả thuyết nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu trong chƣơng 3. Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu, trình bày quy trình nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể cho đề tài.
Bao gồm thiết kế nghiên cứu, mẫu nghiên cứu, thiết kế thang đo … các khái niệm nghiên cứu Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận, trình bày các kết quả kiểm định, phân tích và thảo luận một số kết quả nghiên cứu đạt đƣợc. 6 Chƣơng 5: Kết luận và đề xuất. Thông qua kết quả nghiên cứu và thảo luận trong chƣơng 4, đề tài đã rút ra kết luận và kiến nghị một số giải pháp phù hợp liên quan đến thị trƣờng BĐS tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Kết luận chƣơng 1 Chƣơng 1 đã giới thiệu tổng quan về đề tài gồm tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu.
Chƣơng 1 đã trình bày ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn. Bên cạnh đó, kết cấu của luận văn cũng đƣợc giới thiệu tổng quát trong chƣơng này. 7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƢ BẤT ĐỘNG SẢN CỦA NHÀ ĐẦU TƢ CÁ NHÂN 2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BẤT ĐỘNG SẢN 2.1 Khái niệm bất động sản BĐS là chủ đề của nhiều công trình nghiên cứu, vì vậy có nhiều định nghĩa khác nhau về BĐS. Trong đó: Trong “Thị trƣờng bất động sản” của Hoàng Văn Cƣờng và cộng sự (2006), BĐS đƣợc hiểu là những tài sản vật chất không thể di dời, tồn tại và ổn định lâu dài.
Đây cũng là khái niệm đƣợc sử dụng trong nghiên cứu của Lê Thanh Ngọc (2014). Trong nghiên cứu của Vũ Đức Toàn (2016), BĐS bao gồm các công trình xây dựng, mùa màng, cây trồng và tất cả những gì liên quan đến đất đai hay gắn liền với đất đai, những vật trên mặt đất. Theo điều 107 trong Bộ luật Dân sự Việt Nam (2015), BĐS là các tài sản không di dời đƣợc, bao gồm: Đất đai, nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà ở, công trình xây dựng đó, các tài sản khác gắn liền với đất đai và các tài sản khác theo quy định của pháp luật. Nhƣ vậy, BĐS là khái niệm phản ánh đất đai, của cải gắn liền với đất, không thể di dời, tồn tại và ổn định lâu dài.
BĐS khác với các loại động sản ở đặc điểm không thể di dời và ổn định lâu dài.2 Đặc điểm của bất động sản * Tính cố định: Tính cố định của BĐS là đặc tính phân biệt giữa BĐS và động sản, phản ánh việc không thể di dời về mặt địa lý của BĐS. Theo Lê Thanh Ngọc (2014), Vƣơng Minh Phƣơng (2018), mỗi BĐS có vị trí riêng, gắn liền với một địa phƣơng nhất định và không thể thay đổi. Vị trí của BĐS tổng hợp các yếu tố liên quan đến điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng, mức độ phát triển kinh tế - xã hội của địa phƣơng, góp phần tạo ra giá trị của BĐS trên thị trƣờng. Tùy thuộc vào vị trí của BĐS mà giá trị của BĐS có thể khác nhau.
8 *Tính không đồng nhất: Nghiên cứu của Lê Thanh Ngọc (2014), Hoàng Văn Cƣờng và cộng sự (2006) đều chỉ ra rằng BĐS có tính không đồng nhất hay tính cá biệt hóa cao. Mỗi BĐS sẽ có những đặc điểm khác nhau về vị trí, diện tích, đặc điểm vật chất, công trình gắn liền với đất. Không có BĐS nào giống BĐS nào làm cho ngƣời bán nắm giữ vị trí độc quyền trong việc trao đổi mua bán BĐS. * Tính khan hiếm: Theo tài liệu của Vũ Đức Toàn (2016), một đặc điểm quan trọng của BĐS chính là tính khan hiếm và không thể tái tạo đƣợc.
Nguyên nhân là do đất đai là có giới hạn, không thể mở rộng. Vì đặc tính khan hiếm, không thể mở rộng và phát triển nên giá trị của BĐS thƣờng có xu hƣớng gia tăng khi nhu cầu của con ngƣời thì nhiều nhƣng nguồn đất đai bị giới hạn. * Tính bền vững theo thời gian: Đất đai đƣợc xem là tài sản đƣợc sử dụng lâu dài, không có tuổi thọ, không thay đổi trạng thái vật chất (Bộ Xây dựng, 2006). Đối với công trình xây dựng trên đất, tùy vào vật liệu và kết cấu mà tuổi thọ có thể vài chục năm đến hàng trăm năm.
Theo Lê Thanh Ngọc (2014), do BĐS có tính lâu bền và khan hiếm, đồng thời có thể phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau nên giá trị của nó rất lớn và thƣờng tăng lên theo thời gian. * Tính ảnh hƣởng lẫn nhau: Theo Vƣơng Minh Phƣơng (2018), BĐS có sựảnh hƣởng lẫn nhau rất lớn, đƣợc thể hiện qua giá trị của BĐS này có thể tác động đến giá trị của BĐS khác. Đặc biệt, khi Nhà nƣớc xây dựng cơ sở hạ tầng thƣờng sẽ làm cho giá trị BĐS quanh khu vực đó gia tăng. * Tính thanh khoản thấp: Trong các loại tài sản đƣợc xem nhƣ là nguồn tài chính, BĐS là loại tài sản có tính thanh khoản thấp.
Theo Lê Thanh Ngọc (2014), do BĐS thƣờng có giá trị lớn, chi phí giao dịch cao đồng thời chịu sự quản lý chặt chẽ của pháp luật nên việc chuyển đổi BĐS thành tiền thƣờng kéo dài và tốn kém. Nếu so sánh về tính thanh khoản, BĐS sẽ tốn kém nhiều chi phí, thời gian để chuyển thành tiền hơn so với các loại giấy tờ có giá hoặc các tài sản khác nhƣ vàng, kim loại quý.3 Phân loại bất động sản Theo Vƣơng Minh Phƣơng (2018), có nhiều tiêu chí để phân loại BĐS, trong đó, nếu căn cứ theo hiện trạng sử dụng, BĐS đƣợc chia thành BĐS đã đầu tƣ xây dựng, BĐS chƣa đầu tƣ xây dựng và BĐS đặc biệt. Trong đó: 9 * “BĐS có đầu tƣ xây dựng gồm: BĐS nhà ở, nhà xƣởng và công trình xây dựng (hạ tầng kinh tế, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội),. Đây là nguồn hàng hóa chủ yếu trên thị trƣờng.
* BĐS không đầu tƣ xây dựng : BĐS thuộc loại này chủ yếu là BĐS ở dạng ban đầu, ít có giá trị đầu tƣ của con ngƣời nhƣ đất nông nghiệp, đất trồng rừng, đất nuôi trồng thuỷ sản,. * BĐS đặc biệt: là các công trình có tính chất đặc biệt nhƣ khu bảo tồn quốc gia, di stích lịch sử, văn hóa, danh lam, thắng cảnh, nhà thờ, đình, chùa…” (Vƣơng Minh Phƣơng, 2018) 2.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƢ BẤT ĐỘNG SẢN CỦA NHÀ ĐẦU TƢ CÁ NHÂN 2.1 Các khái niệm về quyết định đầu tƣ bất động sản của nhà đầu tƣ cá nhân Theo Nguyễn Bạch Nguyệt và Từ Quang Phƣơng (2007), đầu tƣ là khái niệm phản ánh sự bỏ ra, sự hi sinh nguồn lực nhƣ tiền, sức lao động, trí tuệ… ở hiện tại để đạt đƣợc những kết quả có lợi cho nhà đầu tƣ trong tƣơng lai. Nhƣ vậy, đầu tƣ có thể hiểu là việc một chủ thể hi sinh giá trị ở hiện tại để đổi lấy giá trị lớn hơn nhƣng không chắc chắn trong tƣơng lai. Hoạt động đầu tƣ gắn liền với việc sử dụng các nguồn lực ở thời điểm hiện tại để đạt đƣợc kết quả mong đợi trong tƣơng lai.
Hoạt động đầu tƣ do các chủ thể trong nền kinh tế thực hiện trong đó gồm cá nhân, doanh nghiệp, chính phủ. Nhà đầu tƣ cá nhân là cá nhân bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tƣ. Nhà đầu tƣ cá nhân khác với các doanh nghiệp, chính phủ trong việc ra quyết định đầu tƣ. Nhà đầu tƣ cá nhân đang đóng vai trò là ngƣời mua trên thị trƣờng bất động sản, vì vậy, hành vi đầu tƣ của nhà đầu tƣ cá nhân cũng có thể hiểu là quá trình mô tả cách thức mà nhà đầu tƣ ra quyết định lựa chọn hay loại bỏ sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu sinh lời cho tài sản.
Hành vi đầu tƣ của nhà đầu tƣ cá nhân, dựa trên nghiên cứu của Schiffiman và cộng sự (2014) về hành vi của ngƣời tiêu dùng, sẽ trải qua quá trình tìm kiếm thông tin, lựa chọn sản phẩm, dịch vụ, quyết định đầu tƣ và đƣa ra đánh giá sau khi đầu tƣ. Các nhà đầu tƣ có nhiều kênh đầu tƣ nhằm mục đích sinh lời khác nhau nhƣ gửi tiền tiết kiệm, mua các loại tài sản tài chính, kim loại quý và BĐS. Theo Bộ Xây 10 dựng (2006), đầu tƣ BĐS là việc đầu tƣ vốn để thực hiện hoạt động mua, nhận chuyển nhƣợng, thuê mua BĐS hoặc quản lý BĐS nhằm mục đích sinh lời trong tƣơng lai. Nhƣ vậy, đầu tƣ BĐS của nhà đầu tƣ cá nhân có thể hiểu là cá nhân bỏ vốn đầu tƣ để nhận chuyển nhƣợng hay mua tài sản là BĐS với mục đích sinh lời trong tƣơng lai.
Khi nhà đầu tƣ cá nhân quyết định đầu tƣ BĐS có nghĩa là nhà đầu tƣ cá nhân đã thực hiện thu thập thông tin, đánh giá và lựa chọn BĐS cũng nhƣ thực hiện giao dịch để nhận chuyển nhƣợng BĐS với mục đích sinh lời. Tóm lại, quyết định đầu tƣ BĐS của nhà đầu tƣ cá nhân đƣợc hiểu là việc một cá nhân đã hi sinh/bỏ một khoản vốn để mua, nhận chuyển nhƣợng BĐS ở thời điểm hiện tại nhằm mục đích sinh lời trong tƣơng lai.2 Đặc điểm quyết định đầu tư bất động sản của nhà đầu tư cá nhân Theo Đoàn Thị Thanh Huyền (2013), Trần Văn Tuyến (2013) đã trình bày các đặc điểm của quyết định đầu tƣ BĐS, cụ thể nhƣ sau: - Đòi hỏi vốn đầu tƣ lớn: Do đặc điểm của BĐS là có giá trị lớn, vì vậy NĐT cần phải phân bổ chu chuyển, bảo toàn vốn để thu đƣợc lợi nhuận cao. - Thời gian từ khi bắt đầu dự án đến kết thúc của một dự án đầu tƣ và đạt thành quà phát huy tác dụng thƣờng đòi hỏi nhiều năm.