Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỂ TIÊU CHẢY [34] Tiêu chảy là đi ngoài phân lỏng hoặc tóe nước trên 3 lổn trong 24 giờ. Tiêu chảy cấp là liêu chảy khởi đổu cấp tính kéo dài không quá 14 ngày. Hội chứng lỵ là tiêu chảy có máu trong phân.
Tiêu chảy kéo dài là tiêu chảy cấp kếo dài quá 14 ngày. Đợt tiêu chảy (lượt) là giai đoạn bắt đầu từ khi bị tiêu chảy tới ngày, mà sau đó hai ngày phân trẻ bình thường. Nếu sau hai ngày trẻ tiêu chảy lại là trẻ bắt đầu một đợt tiêu chảy mới. MỘT SÔ LĨNH Vực NGHIÊN cứu CỦA CHƯƠNG TRÌNH PHÒNG CHÓNG BỆNH TIÊU CHẢY Để thực hiện chương trình phòng chống các bệnh tiêu chảy (CDD) có cơ sở khoa học và có hiệu quả.
Tổ chức Y tế thê' giới (WHO) đã đề xuất và ủng hộ các lĩnh vực nghiên cứu khoa học sau 110]: - Căn nguyên gây tiêu chảy. - Nghiên cứu về dịch lễ học của bệnh tiêu chảy. - Đánh giá hiệu quả của các biện pháp phòng bệnh không đặc hiệu. - Sản xuất và thử nghiệm vác xin đặc hiệu phòng tiêu chảy.
- Sử dụng đúng các loại thuốc trong diều trị liêu chảy cấp. - Dinh dưỡng trong điều trị tiêu chảy w. Dịch tễ học của bệnh tiêu chảy Bệnh tiêu chảy cũng như các loại bênh truyền nhiễm khác cũng phát sinh và phát triển tuân theo sơ đồ dịch tễ: lác nhân, môi trường, vật chủ. Tác nhân Vât chủ Môi trường Sơ đổ dịch tễ của bệnh tiêu chảy: Mầm bệnh từ phán và nước tiểu Tay bẩn ◄—► Ruồi ◄—► Nước bề mặt Chất thải Nông nghiệp Nước ngầm và và nuôi cá nước bề niăt Thực phẩm Nước sinh hoạt Tắm, bợi lội Mầm bệnh vào CƯ thê người Hổu hết các nhà nghiên cứu về bệnh sinh - dịch tễ học bệnh tiêu chảy cho rằng các vi trùng gây bệnh tiêu chảy dều chủ yếu và duy nhất truyền qua dường -4 - phân miệng.
Sự lan truyền mầm bệnh trực tiếp có thể ngăn chặn được hay không là tùy thuộc vào sự cải thiện vệ sinh cá nhân và gia đình |2I |. Chương trình CDD của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã tiến hành các nghiên cứu dài hạn (1987-1992) về nhiễm Rotavius của trẻ dưới 2 tuổi ở Achentina, Cộng hoà Trung Phi, Colombia, Hồng Công, An Độ và Srilanca đã nhân thấy: Rotavius gây tiêu ch ảy là nhi ễm trùng phổ biến ử trẻ em, gần 80% nhiễm trùng trẻ em dưới 1 tuổi [451. Chương trình CDD của WHO đã nghiên cứu thấy rằng: nhiễm Campylobacter jejuni gây tiêu chảy thường gặp ở trẻ em dưới 1 tuổi đối với các nước đang phát triển, còn hiếm ở các nước phát triển; Enterrotoxigenỉc Escherichia Coli (ETEC) là tác nhân quan trọng gây tiêu chảy phân tóe nước cả trẻ em và người lớn trong các nước đang phát triển; ETEC lây lan chủ yếu qua nước và thực phẩm bị ô nhiễm [261- Ngoài ra v.cholerae là vi khuẩn gây nên các vụ dịch tả cũng được nghiên cứu. Ngày nay vấn đề thời sự và thu hút sự quan tâm của nhiều người là vấn đề ngộ độc thức ăn (gây tiêu chảy mất nước nặng kèm theo nhiễm trùng nhiễm độc).
Nguyên nhân chính của vấn đề này là vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm. Báo cáo không đầy đủ từ 32 tỉnh thành phố năm 1992-1993 đã ghi nhân cả nước có 32 vụ ngộ độc, 1962 ng ười ph ải nh ập viện với 17 ca chết. Báo cáo của Vụ Y tế dự phòng năm 1997 có 585 vụ với 6500 người mắc; năm 1998 ghi nhộn có 270 vụ ngộ độc, với 6773 người phải nhập viện, 41 ca tử vong. Năm 1999 có 295 vụ với 7000 người mắc, 65 ca tử vong.
Những số liệu trên theo các chuyên gia phân tích ở Việt Nam thì chỉ là những con số khiêm tốn không đ ầy đ ủ vì ch ỉ tính trên các trường hơp cấp cứu phải nhập viện và tờ một hệ thống báo cáo chưa hoàn thiện và ổn định về mặt kỹ thuật. r -5- Tần xuất mắc bệnh liêu chảy theo số liêu của WHO [20] của trẻ dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển là 3,3 dợt / trẻ/ năm. Tại Việt Nam là 2,2 đợt/ trẻ/ năm. Tuy vậy các nghiên cứu của các nước cho kết quả khác nhau: Guinea 7 đợt/ trẻ/ năm; Trung Quốc 3,1 đợt/trẻ/năm.
Tại Việt nam, nghiên cứu ở thành phố Hồ Chí Minh ỉà 2,26 đ ợt ì trẻ / năm | 24|. Theo báo cáo năm 1999 của chương trình phòng chống tiêu chảy là 2,2 đợt /trẻ/năm. Những trẻ bị mắc tiêu chảy đã đến khám và diều trị tại nhiều loại hình dịch vụ y tế như trạm y tế, y tế tư nhân, phòng khám hoặc bộnh viện, tự điều trị ử nhà. Nghiên cứu của Đinh Sỹ Hiển tại cộng đổng huyện Từ Liêm thấy rằng: tại các cơ sở y tế nhà nước như trạm y tế, các phòng khám, bệnh viên chỉ ghi nhân được khoảng 7-10% số lượt ỉa chảy ở trẻ nhỏ 110J.
Theo Đỗ Gia Cảnh Ị5| có 8 cuộc điều tra phân bố bênh nhân tiêu chảy cho kết quả là: Tại tuyến bênh viện huyên, lỉnh, Trung ương là: 3,1- 4,9%. Tại trạm y tế xã 27,3 - 29,1%. Căn nguyên vi sinh vật của tiêu chảy 'lìm hiểu và xác định căn nguyên vi sinh vật gây bệnh giúp cho các nhà khoa học biết đặc điểm sinh học, khả năng gây bệnh và sự nhạy cảm kháng sinh của chúng. Trên cơ sở các hiểu biết đó, các nhà khoa học mới tìm ra vắc xin phòng bệnh đặc hiệu và các nhà lâm sàng chọn biện pháp điều trị tiêu chảy một cách tối ưu.
Chương trình CDD của WHO đã phối hợp với Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) tiến hành nhiều nghiên cứu về căn nguyên gây tiêu chảy t ại các phòng thí nghi ệm và đã phân lập được các lác nhân gây bệnh tiêu chảy 126]. -6 - Bảng 1: Các tác nhân thường gặp gây tiêu chảy cấp được phán lập ở trẻ em bị tiêu chảy cáp trong các cơ sở điều trị tại các nước đang phát triển |26|. Các vi sinh vật gây bệnh Tỷ lệ % Các kháng sinh có tác dụng Vi rút: Rotavirus 15-25 Không Vi khuẩn: -Enlerrotoxigenic 10-20 Colrimoxazole Escherichia Coli (ETEC) - Shigella 5-15 Ctrimoxazole, Nalidixic acid - Vibrio cholerae 01 5-10 Tetracyclin - Campylobacter jejuni 10-15 Erythromycin -Salmonella (non- typhoid) Không -Enteropathogen ic 1-5 Cotrimoxazole Escherrichia Coli Đơn bào: Cryptoporidium 5-15 Không Không tìm thây tác nhân gây 20-30 Không bệnh Qua bảng kết quả phân lập, ta thấy tác nhân quan trọng nhất gây tiêu ch ảy là Rotavirus. Khoảng 1/3 số trẻ em dưới 2 tuổi bị ít nhất một đợt tiêu chảy do Rotavirus.
Tiếp theo các vi khẩn gây bệnh chủ yếu là ETEC, Shigella, Campylobacter jejuni, v.cholerae chủ yếu tìm thấy của vùng có dịch hoặc đang lưu hành dịch. -7 - 20-30% số trường hợp mắc tiêu chảy còn chưa tìm thấy nguyên nhân chứng tỏ còn nhiều nguyên nhân chưa được biết tới. Sử đụng thuốc trong điều trị tiêu chảy Nguyên Gia Khánh và cộng sự tiến hành nghiên cứu điều trị trẻ bị liêu chảy tại Viện bảo vệ sức khoẻ trẻ em nhận thấy: đối với trẻ bị tiêu chảy cấp thì vấn đề sử dụng thuốc nói chung và kháng sinh nói riêng không được đặt ra mà ch ủ yếu là bù đ ủ n ước và đi ện gi ải sớm, đầy đủ là yếu tố quyêĩ định thành công [12], Nguyền Anh Dũng, Đặng Đức Trạch nghiên cứu tình hình điều trị bệnh tiêu chảy tại khoa nhi các bệnh viện cho rằng: đối với liêu chảy do vi khu ẩn ho ặc kí sinh trùng vi ệc s ử dụng kháng sinh là rất hạn chế và phải cân nhắc cẩn thận. Riêng đối với b ệnh t ả do V.
cholerae 01 là bệnh có lính chất nghiêm trọng là gây các vụ địch lớn, hơn nữa V. cholcrae 01 có nhậy cảm đối với Telraxycline, Trimethoprim - Sulfamethoxazol cho nên cần phải chỉ định kháng sinh sớm [7ị. Chương trình CDD của WHO cho rằng: không dùng thuốc cầm tiêu chảy và thuốc chống nôn cho trẻ, nó không cố tác dụng mà còn nguy hiểm [26]. Các biện pháp phòng bệnh không đặc hiệu Đinh Sỹ Hiển, Đặng Đức Trạch đã nghiên cứu và dề xuất các biện pháp dự phòng không đặc hiệu để khống chê' các bệnh tiêu chảy và cho rằng [10]: - Cải thiện vệ sinh môi trường là biện pháp cơ bản, lâu dài nhằm giả quyết nguồn, đường truyền nhiễm, khống chế tối đa tỷ lệ mắc các bệnh đường ruột nói chung và tiêu ch ảy nói riêng.
Trước mắt cần vệ sinh nguồn nước, xử lý phân, chất thải, vệ sinh nhà ở, v ệ sinh thực phẩm. Phát động và duy trì các phong trào v ệ sinh phòng b ệnh, phòng d ịch tốt trong cộng đổng. -8 - - Khống chế bệnh dịch đường ruột: tăng cường hệ thống giám sát, dự báo phát hiện dịch. Khi có dịch xảy ra kịp thời cứu chữa người bệnh làm giảm sô' lử vong, xử lý nguồn lây và bảo vệ khối cảm thụ làm hạn chế mắc và dập tắt dịch.
- Triển khai chiến dịch truyền thông về 3 công trình vệ sinh (nhà tắm, giếng nước, hố xí) một cách thường xuyên. Theo đề xuất của tổng kết 5 năm triển khai chương trình CDD tại Việt Nam là đẩy mạnh giáo dục tuyên truyền về nuôi con bằng sữa mẹ, cho ăn sam đúng cách, các tập quán vệ sinh cá nhân, cải thiện nước uống [281. CÁC YÊU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI NGUY cơ MẮC TIÊU CHẢY 1. Một số khái niệm về nguy cơ và yến tố nguy cơ Nguy cơ Nguy cơ là xác suất xuất hiện một biến cố không có lợi đối với sức khoẻ của mỗi người hoặc quần thể [231.
Yếu tô nguy cơ Tất cả mọi yếu tô nội sinh và ngoại sinh có liên quan ảnh hưởng đến việc hình thành, diễn biến của bệnh trạng trong quần thể đều được nhìn nhân là những yếu tố nguy cơ [11, [23]. Các yếu tô ảnh hưởng tới nguy cơ mắc bệnh tiêu chảy ớ trẻ em dưới 24 tháng tuổi ỉ. Các yếu tô vé tập quán chăm sóc và vệ sinh môi trường: ♦ Yếu tô bú mẹ Trong y văn đã nêu rõ vai trò của sữa mẹ trong việc bảo vệ trẻ nhỏ dối với bệnh tiêu chảy. Sữa mẹ chứa các globulin miễn dịch chủ yếulà IgA (95%) và các -9 - loại khác IgM, IgG có lác dụng bảo vệ cơ thể chống các bệnh dường ruột và một số bệnh do virut.
Lysozym là một men lìm thấy ở trứng và sữa mẹ, nó là yếu tố chống nhiễm khuẩn không đặc hiệu. Nó có khả năng phá huỷ một sô vi khuẩn Gram(+) và còn góp phần vào việc phát triển và duy trì hệ vi khuẩn chí ở ruột của những trẻ nuôi bằng sữa mẹ [331.