Luận văn hoạt động và ảnh hưởng của nha học đường tới tình trạng bệnh răng miệng của học sinh tại các trường tiểu học quận đống đa hà nội năm học 1999 2000

Chuyên khảo phân tích Luận văn hoạt động và ảnh hưởng của nha học đường tới tình trạng bệnh răng miệng của học sinh tại, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Trường đại học

Trường Cán Bộ Quản Lý Y Tế

Chuyên ngành

Y Tế Cộng Đồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

1999-2000

106
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

ĐẶT VẤN ĐỀ

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Sức khoẻ răng miệng- một vấn đề Y tế công cộng toàn cầu

1.2. Tình hình bệnh răng miệng trên Thế giới

1.3. Tình hình bệnh răng miệng các nước trong khu vực Đông Nam Á

1.4. Tình hình bệnh răng miệng ở Việt Nam

1.5. Tình hình bệnh răng miệng ở Hà Nội và quận Đống Đa

1.6. Công tác phòng chống bệnh răng miệng

1.6.1. Trên Thế giới

1.6.2. Các nước trong khu vực Đông Nam Á

1.6.3. Công tác phòng chống bệnh răng miệng ở Việt Nam

1.7. Chương trình nha học đường ở Việt Nam

1.7.1. Sự ra đời và hoạt động của chương trình nha học đường

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Thiết kế nghiên cứu định lượng

2.3.2. Thiết kế nghiên cứu định tính

2.4. Một số khái niệm, định nghĩa, quy ước được dùng trong nghiên cứu

2.5. Phân tích và sử lý số liệu

2.6. Các biến số và phương pháp thu thập số liệu

2.7. Các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

2.8. Thử nghiệm bộ câu hỏi

2.9. Hạn chế của đề tài

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Thực trạng hoạt động nha học đường tại các trường

3.2. Kiến thức, thái độ, thực hành của cán bộ nha học đường và các yếu tố ảnh hưởng

3.3. Ảnh hưởng của hoạt động nha học đường tới kiến thức, thực hành và tình hình bệnh răng miệng của học sinh

3.4. Nhu cầu và thái độ của phụ huynh đối với hoạt động nha học đường

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Thực trạng hoạt động nha học đường quận Đống Đa

4.2. Nội dung giáo dục chăm sóc sức khoẻ tại trường

4.2.1. Nội dung súc miệng nước Fluo 0,2%

4.2.2. Nội dung khám răng định kỳ

4.2.3. Nội dung khám chữa răng tại trường

4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động nha học đường

4.3.1. Cán bộ làm công tác y tế học đường

4.3.2. Tổ chức cán bộ

4.3.3. Kiến thức, thái độ thực hành của cán bộ nha học đường

4.3.4. Công tác chỉ đạo giám sát của ban chỉ đạo chương trình, ban giám hiệu nhà trường

4.3.5. Trang thiết bị và kinh phí hoạt động nha học đường tại trường

4.4. Ảnh hưởng của hoạt động nha học đường đến kiến thức, thực hành chăm sóc răng miệng và bệnh răng miệng của học sinh

4.4.1. Ảnh hưởng của hoạt động nha học đường đến kiến thức, thực hành chăm sóc răng miệng của học sinh

4.4.2. Ảnh hưởng của chương trình nha học đường đến tỷ lệ bệnh sâu răng

4.4.3. Ảnh hưởng của chương trình nha học đường đến tỷ lệ bệnh viêm lợi

4.4.4. Ảnh hưởng của chương trình nha học đường đến tình trạng răng lệch lạc

4.5. Nguồn thông tin học sinh nhận được từ nhà trường về kiến thức chăm sóc sức khoẻ răng miệng

4.6. Học sinh đã được chữa răng tại trường

4.7. Nhu cầu, thái độ của phụ huynh học sinh với chăm sóc sức khoẻ răng miệng tại trường

LỜI CẢM ƠN

Tóm tắt

I. Tổng quan về ảnh hưởng của nha học đường đến sức khỏe răng miệng

Nha học đường là một chương trình quan trọng nhằm nâng cao sức khỏe răng miệng cho học sinh tiểu học. Chương trình này không chỉ giúp phát hiện sớm các vấn đề về răng miệng mà còn giáo dục học sinh về vệ sinh răng miệng. Tại quận Đống Đa, Hà Nội, chương trình nha học đường đã được triển khai từ những năm 1980 và đã có những tác động tích cực đến tình trạng sức khỏe răng miệng của học sinh. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần được giải quyết để nâng cao hiệu quả của chương trình.

1.1. Tình hình sức khỏe răng miệng của học sinh tiểu học tại Đống Đa

Theo thống kê, tỷ lệ học sinh mắc bệnh sâu răng tại quận Đống Đa lên tới 44%. Điều này cho thấy tình trạng sức khỏe răng miệng của học sinh còn nhiều vấn đề cần cải thiện. Việc giáo dục và chăm sóc răng miệng cho học sinh là rất cần thiết để giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh.

1.2. Vai trò của nha học đường trong giáo dục sức khỏe

Chương trình nha học đường không chỉ cung cấp kiến thức về vệ sinh răng miệng mà còn giúp học sinh hình thành thói quen chăm sóc răng miệng từ sớm. Việc này có thể giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh răng miệng trong tương lai.

II. Thách thức trong việc triển khai nha học đường tại Đống Đa

Mặc dù chương trình nha học đường đã được triển khai, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc thực hiện. Thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và sự tham gia của phụ huynh là một trong những vấn đề lớn. Ngoài ra, việc thiếu nguồn lực và trang thiết bị cũng ảnh hưởng đến hiệu quả của chương trình.

2.1. Thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan

Sự phối hợp giữa các cơ quan giáo dục và y tế chưa được chặt chẽ, dẫn đến việc triển khai chương trình không đồng bộ. Điều này làm giảm hiệu quả của các hoạt động nha học đường.

2.2. Nguồn lực và trang thiết bị hạn chế

Nhiều trường học thiếu trang thiết bị cần thiết cho việc chăm sóc răng miệng. Điều này ảnh hưởng đến khả năng thực hiện các hoạt động nha học đường một cách hiệu quả.

III. Phương pháp cải thiện hiệu quả nha học đường tại Đống Đa

Để nâng cao hiệu quả của chương trình nha học đường, cần có những phương pháp cải thiện cụ thể. Việc tăng cường giáo dục cho phụ huynh và học sinh về sức khỏe răng miệng là rất quan trọng. Bên cạnh đó, cần có sự đầu tư vào trang thiết bị và nguồn lực cho các trường học.

3.1. Tăng cường giáo dục cho phụ huynh

Giáo dục phụ huynh về tầm quan trọng của sức khỏe răng miệng có thể giúp họ hỗ trợ con em mình trong việc chăm sóc răng miệng. Điều này sẽ tạo ra một môi trường tích cực cho việc thực hiện chương trình nha học đường.

3.2. Đầu tư vào trang thiết bị

Cần có sự đầu tư vào trang thiết bị nha khoa tại các trường học để đảm bảo các hoạt động chăm sóc răng miệng được thực hiện hiệu quả. Điều này sẽ giúp nâng cao chất lượng chương trình nha học đường.

IV. Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của nha học đường

Nghiên cứu cho thấy chương trình nha học đường có ảnh hưởng tích cực đến sức khỏe răng miệng của học sinh. Tỷ lệ học sinh có kiến thức về vệ sinh răng miệng đã tăng lên đáng kể sau khi tham gia chương trình. Tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục theo dõi và đánh giá để cải thiện hơn nữa.

4.1. Tăng cường kiến thức về sức khỏe răng miệng

Sau khi tham gia chương trình, nhiều học sinh đã có kiến thức tốt hơn về cách chăm sóc răng miệng. Điều này cho thấy hiệu quả của việc giáo dục trong chương trình nha học đường.

4.2. Giảm tỷ lệ bệnh răng miệng

Tỷ lệ học sinh mắc bệnh răng miệng đã giảm sau khi tham gia chương trình nha học đường. Điều này chứng tỏ rằng chương trình đã có tác động tích cực đến sức khỏe răng miệng của học sinh.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho nha học đường

Chương trình nha học đường tại Đống Đa đã có những thành công nhất định nhưng vẫn còn nhiều thách thức. Cần có sự đầu tư và cải thiện để chương trình phát huy tối đa hiệu quả. Hướng đi tương lai cần tập trung vào việc nâng cao nhận thức và cải thiện cơ sở vật chất cho các trường học.

5.1. Đầu tư vào cơ sở vật chất

Đầu tư vào cơ sở vật chất sẽ giúp nâng cao chất lượng chương trình nha học đường. Cần có các thiết bị hiện đại để phục vụ cho việc chăm sóc răng miệng.

5.2. Nâng cao nhận thức cộng đồng

Nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của sức khỏe răng miệng sẽ giúp chương trình nha học đường hoạt động hiệu quả hơn. Cần có các chiến dịch truyền thông để giáo dục cộng đồng.

14/07/2025
Luận văn hoạt động và ảnh hưởng của nha học đường tới tình trạng bệnh răng miệng của học sinh tại các trường tiểu học quận đống đa hà nội năm học 1999 2000

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Sức khoẻ răng miệng- một vân đề Y té công cộng toàn cầu 1. Tình hình bệnh răng miệng trên Thê giới Bệnh RM là một bệnh phổ biến trên Thế giới với tỷ lệ mắc trên 90% dân số. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, mọi giới, mọi tầng lớp xã hội.

Ngành RM đã trở thành một ngành riêng biệt, nhiều nước đã có trường đại học và bệnh viện nha khoa riêng 136]. Trước đây bệnh RM rất phổ biến ở những nước phát triển vì chế độ ăn nhiều đường, đạm, nhưng khoảng 20 năm gần đây có sự đảo ngược về tình trạng sâu răng ở hai nhóm quốc gia. Những nước nghèo tỷ lệ sâu răng ngày càng tăng do không được fluo hoá nước uống, thiếu sự giáo dục nha khoa, chế độ ăn đường không đúng. Những nước giàu tỷ lệ sâu răng giảm do nhà nước coi trọng chương trình íluo hoá nước uống, thuốc chải răng có fluo, trám bít hố rãnh, coi giáo dục nha khoa là quốc sách (36].

Trong vài thập kỷ gần đây, các nước này đã dành 5-11% ngân sách của y tế cho phòng bệnh RM [16]. Trong những năm từ 1946 đến 1975, ở hầu hết các nước phát triển, chỉ số sâu mất trám (SMT) của trẻ em lứa tuổi 12 nằm trong khoảng 7,4 - 12,0 có nghĩa là trung bình mỗi trẻ em có từ 7,4 đến 12 răng sâu. Từ 1979 đến 1982 chỉ số SMT đã giảm hẳn còn khoảng 1,7 - 3,0. Trái lại, ở các nước đang phát triển tình trạng sâu răng của trẻ em lứa tuổi 12 đang gia tăng từ 0,1- 6,5 trong thập kỷ 60 lên 2,3 -10,7 thập kỷ 70 [591,[601.

Nãm 1978 WHO thông báo 80% trẻ em dưới 12 tuổi và 100% trẻ em 14 tuổi viêm lợi mãn 117]. Theo Jacoby ở Đức năm 1992 tỷ lệ viêm lợi ở lứa tuổi 12 là 88,3% [53]. 4 Ngoài sâu răng và viêm lợi là hai bệnh phổ biến, răng - hàm lệch lạc cũng đang được sự quan tâm của ngành nha khoa. Năm 1930 đến 1965 ở Mỹ có tìr 35% đến 95% người bị lệch lạc răng - hàm [10], 1.

Tình hình bệnh răng miệng các nước trong khu vực Đông Nam Á Theo WHO năm 1997, các nước trong khu vực có trên 90% dân sô bị sâu răng và viêm lợi. Chỉ số SMT lứa tuổi 12 ở mức cao từ 0,7 đến 5,5 [58],[59]. Theo Songpaisan ớ Thái Lan tỷ lệ viêm lợi lứa tuổi 12 là 95,9% [54]. Tình hình bệnh răng miệng ở Việt Nam Cũng như nhiều nước đang phát triển, bệnh lý RM gặp phổ biến ở nước ta, nhu cầu được chăm sóc và điều trị rất cao.

Năm 1991 theo điều tra cơ bản của Viện RHM, toàn quốc có trên 90% dân số mắc các bệnh về RM [40],[47].1: Tỷ lệ bệnh răng miệng và chỉ số SMT phán theo lứa tuổi Nhóm tuổi Sâu răng Viêm lợi Chỉ số SMT 12 tuổi 57,3% 95% 1,82 15 tuổi 60% 95,6% 2,16 35 - 44 tuổi 72,33% 99,34% 5,37 Theo Võ Thế Quang, tỷ lệ sâu răng ở Việt Nam tăng dần theo tuổi, các tỉnh phía Nam cao hơn các tỉnh phía Bắc nhưng mức độ gia tăng ở các tỉnh phía Bắc lại nhanh hơn. Tinh hình sâu răng lứa tuổi 12: Năm 1983, miền Bắc tỷ lệ sâu răng là 19,3%, chỉ số SMT 0,40; miền Nam 76,29% chỉ số SMT 2,51; Năm 1991, miền Bắc tỷ lệ sâu răng là 43,3%, chỉ số SMTlà 1,15; miền Nam 76,33%. Chỉ số SMT 2,93[ 16]. Wim H Van Palenstein Helderman và cộng sự đã xếp Việt Nam là 1 trong 10 quốc gia trên Thế giới có tỷ lệ cao răng cao nhất ở thanh thiếu niên 5 và 1 trong 20 quốc gia trên Thế giới có tỷ lệ cao răng cao nhất ở người trưởng thành [50].

Theo Nguyễn Văn Cát, tại Hà Nội 1983 -1984 có 1,1 triệu người sâu răng chỉ số SMT 1,4 (khoảng 1,5 triệu răng sâu) [13]. Theo Trịnh Công Khởi, năm 1994 Thành phô' Hồ Chí Minh có 85,7% dân số bị sâu răng (khoảng 3,4 triệu người) chỉ số SMT là 4,7 (khoảng 18 triệu răng). Trong khi đó chỉ có 130 bác sỹ RHM tức là 1 bác sỹ/ 30.016 giờ công lao động của bệnh nhân và thầy thuốc [13]. Năm 1991, Vũ Thị Kiều Diễm và cộng sự tiến hành điều tra cơ bản tình trạng RM ở các tỉnh phía Nam cho thấy 80% học sinh lứa tuổi 12 bị sâu răng, bình quân mỗi em có gần 3 răng bị sâu, 40% cần được nhổ răng, 60% cần được trám răng, 14% cần được chữa tuỷ [1],[11J.

Rõ ràng tỷ lệ không được điều trị kịp thời cao sô' răng cần được trám, bị biến chứng (viêm tuỷ hoặc phải nhổ) rất lớn. Răng mọc lệch lạc ở trẻ em cũng là bệnh thường gặp ở nước ta. Theo Nguyễn Văn Cát cùng cộng sự Viện RHM Hà Nội, năm 1984, tỷ lệ người lệch lạc răng ở miền Bắc là 44,84%. Theo Lê Thị Nhàn, lệch lạc rãng - hàm chiếm 60,0% trong tổng số bệnh nhân tới nắn chỉnh răng tại Viện RHM Hà Nội năm 1978.

Theo Hoàng Bạch Dương tỷ lệ lệch lạc răng -hàm của trẻ em lứa tuổi 12 trường cấp II Amsterdam Hà Nội là 91% [10]. Nó không những ảnh hưởng đến tâm lý, chức năng ăn nhai thẩm mỹ mà còn tạo điều kiện cho các bệnh răng miệng khác phát triển. Nếu được hướng dẫn nhổ răng đúng lúc tình trạng răng lệch lạc cũng sẽ giảm [27]. Nắn chỉnh răng hiện cũng đang được sự quan tâm của nhiều bậc phụ huynh (PH).

Tình hình bệnh răng miệng ở Hà Nội và quận Đông Đa. Theo kết quả của Viện RHM năm 1990 tỷ lệ sâu răng lứa tuổi 12 của Hà Nội là 36%, tỷ lệ viêm lợi là 84,0% [47]. Theo báo cáo của Sở Y tê' Hà 6 Nội năm 1998 tỷ lệ sâu răng của học sinh tiểu học là 40,8%. Tỷ lệ sâu răng của học sinh tiểu học quận Đống Đa là 44,0% [29].

Theo báo cáo của TTYT quận Đống Đa năm 1999 tỷ lệ sâu răng của học sinh tiểu học là 35,9%, tỷ lệ viêm lợi là 25% [45]. Còng tác phòng chông bệnh răng miệng 1. Trên Thê giói Từ 1908 Liên đoàn Nha khoa Quốc tế (FDI) đã quan tâm đến dự phòng sâu răng và tìm kiếm các biện pháp phòng ngừa. Tại các hội nghị của FDI năm 1951, 1960 và 1966 đều kết luận việc fluo hoá nước uống là biện pháp phòng bệnh có hiệu quả và ít tốn kém nhất.

Vì vây năm 1958, WHO đã thành lập uỷ ban nghiên cứu về fluo và sức khoẻ RM [16]. Tuy nhiên vào những năm 60 -70 ngành Nha khoa của hầu hết các nước đều tập trung vào chữa, phục hồi răng sâu và viêm quanh răng, công việc tốn kém, ít hiệu quả. Theo báo cáo của WHO năm 1978 hàng nãm Mỹ tốn 100 triệu giờ công lao động, 9 tỷ USD cho việc chữa răng và phí tổn điều trị hơn 10 USD cho một răng ở trẻ em. Chi phí cho điều trị răng 1 năm ở Anh là 180 triệu bảng Anh, còn ở Pháp là 8 tỷ franc và 25 triệu giờ công lao động [13].

Sau đó các nước phát triển tập trung vào phòng bệnh, coi như một chính sách lớn của Nhà nước và của ngành Y tế. Kết quả là 20 năm trở lại đây, tỷ lệ sâu răng ở các nước Bắc Âu, Anh , Mỹ. đã giảm đi một nửa. Đây là một thành tựu lớn do đó WHO đã kêu gọi các nước chậm phát triển đẩy mạnh công tác phòng bệnh RM như các nước phát triển đã làm [16],[52].

Như vậy vai trò của công tác chăm sóc răng miệng(CSRM') tại cộng đồng rất lớn. Nãm 1984 WHO đã đưa ra các biện pháp dự phòng sâu răng: fluo hoá nước uống, đưa íluo vào muối, súc miệng bằng dung dịch fluo cho trẻ em, dùng kem đánh răng có fluo, trám bít hố rãnh răng, chế độ ãn dự phòng, 7 hướng dẫn vệ sinh RM, phát hiện sớm và điều trị dự phòng [55],[58]. Tại Australia 50% thời gian của bác sỹ nha khoa là làm công tác phòng bệnh [23], Sự ra đời của kỹ thuật trám răng không sang chấn ART (Atraumatie Restorative Treatment Technique) là tiến bộ mới trong ngành nha khoa cho phép phòng và điều trị sâu răng ở cộng đồng, nhất là những vùng nông thôn chưa có điện, thiếu máy và trang thiết bị nha khoa tối thiểu. Kỹ thuật ART với vật liệu trám Glass- Inomer và dụng cụ cầm tay, không dùng máy, không ổn, trẻ em dễ cộng tác với thầy thuốc.

Phương pháp này không cần ghế nha khoa, bệnh nhân có thể nằm trên bàn nên rất phù hợp trong trường học [14],[18],[20]. Kỹ thuật trám răng không sang chấn được triển khai vào những năm đầu thập niên 90. Nó được áp dụng đầu tiên ở Zimbabwe và Thái Lan, sau đó được áp dụng rộng rãi ra các nước như Hồng Kông, Singapore. Đến nay đã có hơn 90 quốc gia áp dụng kỹ thuật này để phòng bệnh sâu răng giai đoạn sớm.

Với những ưu điểm của kỹ thuật ART, năm 1998 WHO đã khuyến cáo nên áp dụng kỹ thuật này dự phòng và điều trị sâu rãng cho học sinh, như một chiến lược toàn cầu đê phòng ngừa bệnh sâu răng và hạ thấp tỷ lệ biến chứng [ 14]. Các nước trong khu vực Đóng Nam Á Tai Malaysia, từ năm 1975 tới nay, mỗi năm giành 5,3 - 5,7% ngân sách y tế cho chăm sóc RM. Kết quả cho thấy có 55% dân số được fuo hoá nước uống (tính đến năm 1990). Nãm 1979, Vụ Giáo dục sức khoẻ Nha khoa quốc gia được thành lập, có gần 1000 phòng NHĐ và phòng răng của các TTYT phục vụ gần 20 triệu người dân [16].

Hiện nay, tại Singapore 100% dân số được fluo hoá nước uống và giáo dục nha khoa, 100% học sinh tiểu học và trung học cơ sở được CSSKRM thường xuyên tại trường trong chương trình NHĐ [16]. 8 Từ năm 1950 Trung Quốc đã có hoạt động NHĐ với nội dung giáo dục chăm sóc sức khoẻ RM, khám và chữa sớm. Nãm 1970 thêm một số chương trình sử dụng fluo. Năm 1980 có dự án về NHĐ tại một số khu vực.

Kết quả là sau 5 năm tỷ lệ sâu răng đã giảm 54% ở khu vực này. Năm 1990 NHĐ đã triển khai ở hầu hết các tỉnh, thành phố. Năm 1988 thành lập Ưỷ ban Quốc gia vể SK RM, tổ chức chiến dịch truyền thông phòng bệnh trong cả nước với sự tham gia của hàng ngàn bác sỹ [51 ]. Công tác phòng chống bệnh răng miệng ở Việt Nam Trong những năm gần đây, do đời sống được nâng cao, người dân sử dụng nhiều đường, nước ngọt, công tác phòng bệnh chưa tốt nên tỷ lệ sâu răng cao, do đó làm tốt công tác phòng bệnh để giảm tỷ lệ bệnh RM là rất cần thiết.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ