chương Irình học nhầm cung cấp nhưng Ihởng (in CƯ bản ban đầu cho các em 117], Tại các gia đình trao đổi thông tin giữa mẹ và con còn rất hạn chế, không có định hướng và chưa có phươn háp hiệu quả. Hiện nay hội phụ nữ đang có những hoạt động tiến hành tăng cường vai trò giáo dục cùa các bà mẹ đối với VTN f 17], Theo kết quả dieL! 1 ra cơ bản cùa Quan Lẹ Nga, Khuất Thu Hồng, Đỏ Trọng Hiếu về SKSS vị thành niên tại Hà Nội, Vĩnh Phú, Thái Bình mô tả được một số khía cạnh liỂn quan đến kiến thức, thái độ. hành vi của vị thành niên VỂ SKSS. Kết quà này cho thày lý lệ dối tượng đã Lừng nghe nói den HIV/ AIDS rất cao (98,4%) nhưng khồng phải tấi cà các biện pháp phòng bệnh này đẻu dược nắm vững trừ việc dùng bao cao su và có mộl bạn lình do được nhấn mạnh bằng các quàng cáo trên ti vi.
Kiến thức của vị thành niên về BPTT cũng hạn chế, chi có khoảng một nửa s<5 em biết về bao cao sư và 1/3 bièì về dụng cụ tử cưng [18J. 8 Gần đây nghi&n cứu của trường Đại học y tế công cộng về SKSS vị ihành niÊn đã chỉ ra kiến thức mà học sinh được từ IIhiếu nguồn tin khác nhau, nguồn thông tin chính là các phương tiện thông tin đại chúng, tiếp theo là sách giáo khoa. Thống tin cung câp lừ giáo vì Ẻn dứng hàng thứ ba. Người mẹ không đóng vai trò quan trọng trong phẩn chuẩn bị cho giai doạn kinh nguyệt đâu liên mà hắư hết các bà mẹ chỉ cung Ciíp kiến thức cho con về kinh nguyệt.
Tinh dục vị thành niên. Mỗi xã hội, mỗi dàn lộc có một quan niêm khác nhau về tình đục đúng và tình dục sai, các quan niệm này được tạo ra hời nền vấn hoá của dân lộc dó. Các nước phương Tây thường có quan niệm cởi mở về vấn đề tình dục và họ cho ràng lình dục đó là cách để cập mang tính tâm lý và xã hội, gắn tình dục với khoái cám. Trong khi dó các nưức Đỏng Á và Đông Nam Á chịu ảnh hướng nhiều của nho giáo và phạt giáo với những tín điều khắc kỷ, coi tình dục là bản niing thấp kém của con người không dám bàn luận [12], MF * Ổ Việt Nam, trong thời kỳ mở cửa, có những biến đổi lớn ve kinh tế, văn hóa và xã hội, những biến đổi vê mặt kmh tế dã dãn đến những biến dổi khá lớn trong các mủì quan hệ, đặc biệt trong các mối quan hệ gia đình, cha mẹ dường như mất dẫn sự kiểm .soái đối với con cái dã trưởng thành khĩ họ không còn là cho dựa tài chính duy nhất nữa.
Mội số yêu tố khác cũng dẫn đến biến dổi vãn hoá, xã hội là cơ hội liếp xúc với vãn hoá phương tây do cơ chê mở cửa. Những quan niệm, (âm thế và lối sông mới được hình thành trong nhiêu khía cạnh cuộc sống, đáng chứ ý nhất là những biến đổi trong quan hệ giới lính. Nhiều nghiỄn cứu dã chứng tỏ quan niệm về quan hệ tình dục khởng còn khắt khẽ như trước. Việc chấp nhận QHTD trước hôn nhân khá dè dàng lầ một thực tế.
Mọt nghidn cứu cho biết: tuổi rrung bình QHTD lổn đầu tiẻn là 19,5 tuổi, khoảng 1/2 số phự nữ này là học sinh. 40% đang đi làm và số còn lại đang ở nhà; 2/3 cố QIĨTD 9 với bạn trai đầu tiên, 3/4 tiếp tục có quan hệ thường xuyên, Ỏ Tây Ninh, QHTD đầu tiên ử tuổi 16 -19 là 19%, tuổi 20 - 23 là 50% và tuổi 24 - 28 là 31 % [31], Nam nữ thanh niên độ tuổi 17-24 chưa có gia đình của một trường Đại học tại Hà Nội (2001): Tuổi QHTD lần đầu của sinh viên nam là 20,4, nữ là 20,8, có 30,4% sử dụng BỈOTT trong lẫn QHTD đầu liên, trong đó 71,4% là BPTT truyền thống (tính vòng kinh 19% và xuất tinh ngoài âm đạo 52,4%) và 28,6% sử dụng BPTT hiện đại là BCS. Có 69,6% không sử dụng BPTT, với lý do là không chuẩn bị (72,9%); không thích dùng (18. Có 95,7% biết lèn BPTT, BCS dược biêì đến nhiều nhất (96,5%) sau đó là thuốc uống tránh thai (85%).
Kiến thức về BPTT mới chỉ dừng lại ở mức kể tên được các BPTT. Cơ chế sử dụng và cách sử dụng các BPTT biết rất sơ sài hoặc là chưa hiểu đúng [20]. Đối với học sinh dãn lộc ít người (10 - 21 tuổi) dang học lại một số Irường nội trú tinh Sơn La năm 2000: tuổi yêu lần đầu tờ 16-18 tuổi có tỷ lệ (nam: 55%, nữ: 60,6%), 25,6% nam đã có QHTD trước hôn nhân, trong dó 46,38% không sử dụng các BPTT; 6,22% nữ có QHTD trước hôn nhân trong đó 76,92% không sử dụng BPTT. VTN biết 1 trong 3 loại thuốc tránh thai (86%), tiếp đên là BCS (54,80%).
Biện pháp tránh thai tính vòng kinh và xuất linh ngoài âm đạo có tỷ lệ hiểu biết thấp (đặc biệt là học sinh THCS) Phần lớn nam thanh nÍỄn có QHTĐ lần dầu với người yỗu, một số với dối tượng không có chủ định, thậm chí với gái làng chơi. Đa số lần QHTD đầu tiên không được bảo vệ; ở những lổn sau nếu đối lượng là gái làng chơi thì hầu hết đêu dùng BCS, nếu là bạn gái thì không. Một nghiên cứu sâu 25 thanh niên lừ ỉ 7 - 24 tuổi tại thành phô Hổ Chí Minh cho thấy: 12 người chưa từng QHTD, 4 người chỉ QHTD vớì bạn gái, 5 người có QHTD với gái làng chơi có dùng BCS, 1 người QHTO lần đầu năm 16 tuổi với một nữ lớn tuổi hơn dơ bị lôi kéo, những lần sau với bạn gái; 2 người QIĨTD với nhiều phụ nữ và 1 người QHTD với rất nhiều đối tượng khác nhau nhưng không bao giờ dùng BCS 111]. 10 ở Kiên Giang và Quảng Ninh: VTN biết rất ít vè BPTT- Trẻ gái cho rằng nếu có thai trước hôn nhân thì sẽ nạợ phá thai, nam cho ràng khống chích dùng BCS vì giảm khoái câm.
lí ầu hết QHTD irước hôn nhân ở VTN là không an toàn 117]. * Ở trên thê giới, người ta nhãn thấy nhóm tuổi vị thành niên hiện nay có dạc dì ém là thiếu nữ kết hỏn muộn hơn, hoạt dộng tình dục 11 hiểu hơn trước và không dùng các biện pháp tránh thai. Những dặc điểm trên khiến cho một số vị thành niên có nguy cơ mang thai và sình đe ngoài ý muốn với hạu quả của nó như thai nghén, sinh nở và nuôi con khi bàu thân còn quá tré, phá thai cùng với các hậu quả xấu tới sức khoe, và cuối cùng làẽầc bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD) kể cả nhiễm ĩ íIV/AIDS. Ở một vài nước phát triển, có tới 75% phụ nữ tuổi VTN dã sinh hoạt tình dục, Sinh de trước tuổi 15 có tỷ lệ thấp, dưới 3% ở những nước đang phát triển (riêng ỡ Bangladesh nhiều em kết hôn trước tuổi 15 vù hơn 10% số đó đã sinh đẻ lần đầu ở tuổi này).
Ở Botsawana và Namibia ít lì hất cũng có 3/ 4 em gái VTN mang thai và sinh đẻ ngoài hôn nhân, nhưng ứ Bưrkino Faso, Mali, Niger và Nigeria thì tỳ lệ em gái mang thai chỉ ỉà 4% - 6%. Ò hầu hết các nước chấu Mỹ La Tinh và vùng Caribé, 12% - 25% số sinh đẻ ở tuổi vị thành niên là những cô gái chưa chồng, nhưng ờ Braxin, Colombia và Paraguay thì tỷ lệ gái chưa chổng tuổi học sình mang thai và sinh dẻ ĩại xấp xỉ 1/3, Quá nửa sô sinh đỏ tuổi vị thành niên ở Pháp, Đức, Anh và Mỹ là những cô gái chưa chổng góp phần làm gia Lãng trào lưu sình dẻ ờ những phụ nữ độc thân nói chung. Trong só những nước cõng nghiệp phát triển thì Nhật là một ngoại lẽ, sinh đẻ ngoài hôn nhân ờ tươi vị thành niên chỉ chiếm 10%. Tuy nhiên, do quan hệ lình dục Irước hôn nhân cũng gỉa tâng trong thời gian gần đây cho nên sô' phụ nữ Nhật có chổng nhưng đã có thai lần dầu trước khi cưới cũng gia tăng gap 3 lần, từ 9% năm 1960 lén 27%.
11 Tuổi có chổng ở một số nước Châu Á Tỷ lệ (%) cớ chồng 11 Tên nước 15 tuổi 18 tuổi 20 tuổi 1 Bangladesh (1993 1994) 47 73 82 2 Ấn Độ (1992-1993) 26 54 71 3 Nepal (ỉ996) 19 31 48 4 Srilanka (1993) 1 12 24 5 Indonesia (1994) 9 31 48 6 Philippi 11 (1993) 2 14 29 7 Việt Nam (1998) 1 9 31 8 Thái Lan (1998) 2 20 37 9 Nhậi 0 0 2 Nguồn: De Si Ví7 1997, sìngh 1996- ESCAP - Thái Lan: Ngáy (ừ giữa thập niên 70 đã nhận thấy rằng hoạt dộng tình dục ở thanh thiỐỊU niên ngày càng gia lãng, đó là EÌ1ỘE thực tố làm đau đầu Chính phủ Thái Lan vào thời kỳ dó. Hơn 6U% Thanh thiếu niên IIam có quan hệ tình dục với bạn gái hơậc gái điếm, một số mới chỉ 13 tuổi. Số em gái tuy có ít hơn nhưng các em trở thành bà mẹ tre cũng đã láng ỉên và hậu quá (ất yếu của hoạt động tình dục sớm là các bệnh lây h uyền qua đường lình dục và (hai nghén không mong muốn cùng tăng lên. Chính vì tình hình đó mà Chính phủ đà chấp nhận chương trình giáo dục về sinh lý sính sản ờ các trường Trung học {People, tập 16, sô 2, /989).
- Trung Quốc: Theo thòng kê Ihăm dò thì có khoảng 20% học sinh nũ có quan hệ Lình dục dù nhà (rường dã ran de bàng các hiện pháp như đuổi học. v„ Trinh tiết không còn là tìẽu chuẩn quan trọng nhất khi người ta kén chọn vợ {Thế giới mới, sổ 198, 1996). - Mỹ: Điểu tra ở Mỹ cho thấy ở tuổi 15 khoang 1/4 thiếu nữ và 1/3 nam có hoạt dộng lình dục, đốn tuổi 17 thì tỷ iệ này lăng 50% cho nữ và 60% chò nam. - Hà Lan: Trong một cõng trình díỂu tra kéo dài 3 năm về hành vi linh dục ờ [hanh thiểu niẺn, có khoảng 42% nam và 33% nữ ở tuổi chưa lạp gia đình đã có quan hệ tình dục.
Trong số đó, hơn 70% cả nam lẫn nữ đã biết sử dụng một phương pháp tránh thai ngay lừ lần quan hẹ tình dục đầu tiên.