ĐẶT VẤN ĐỀ Chương trình hành động của Hội nghị Quốc tế về DS và Phát triển tổ chức tại Cai- rô (Ai cập) năm 1994 đã nhấn mạnh đến CSSKSS VTN và TN, coi đó là một thành tố quan trọng trong nội dung SKSS. Thực hiện chương trình của Hội nghị Cai- rô và nhằm đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng DS, chương trình DS và CSSKSS Việt Nam đã mở rộng nội dung và hướng trọng tâm vào CSSKSS, đặc biệt là SKSS VTN, TN. CSSKSS VTN là một trong những mục tiêu quan trọng của Chiến lược Quốc gia về CSSKSS giai đoạn 2001-2010: Cải thiện tình hình SKSS, SKTD VTN [6]. Chiến lược DS Việt Nam 2001- 2010 cũng đưa ra giải pháp: “Mở rộng các hình thức giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục DS, SKSS/KHHGĐ, giới và giới tính trong và ngoài nhà trường” và “chú ý cung cấp dịch vụ cho TN và người chưa TN”[38].
Ké hoạch tổng thể Quốc gia về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao SK VTN và TN Việt Nam giai đoạn 2006- 2010 và định hướng 2020 đề ra mục tiêu: “Cải thiện và nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ CSSK có chất lượng, đặc biệt là các dịch vụ liên quan đến SKSS/SKTD, phòng chống các BLTQĐTD, HIV/AIDS” [8]. Đặc biệt sau kết quả TĐTDS và nhà ở năm 2009, lần đầu tiên trong thập kỷ vừa qua, DS Việt Nam chỉ tăng dưới 1 triệu người (947 nghìn người) một năm. Việt Nam đã đạt mức sinh thay thế (2,0 con/phụ nữ). Khi sức ép về quy mô DS đã giảm đáng kể thì vấn đề nâng cao chất lượng DS và CSSKSS, đặc biệt là CSSKSS VTN, TN là một định hướng ưu tiên trong thời gian tới của Chiến lược DS- SKSS Việt Nam giai đoạn 2011- 2020 [3].
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), VTN là nhóm người ở lứa tuổi từ 10 - 19, chiếm khoảng 1/5 DS thế giới và phần lớn sống ở các nước đang phát triển. Ở nước ta hiện nay có khoảng 22,7% DS ở độ tuổi tìr 10 - 19 tuổi [42], Thực trạng SKSS VTN hiện nay rất đáng lo ngại vì: hiểu biết về SKSS, cách ứng xừ và kỹ năng CSSKSS còn hạn chế, giáo dục về TD và SKSS vẫn là một vấn đề nhạy cảm ở Việt Nam trong khi tuổi dậy thì của các em sớm hơn, tuổi kết hôn muộn hơn, tuổi QHTD lần đầu ngày càng giảm. 2 Độ tuổi trung bình của nữ giới đến tuổi dậy thì ở SAVY 2 và SAVY 1 lần lượt là 14,21 tuổi so với 14,46, của nam lần lượt là 15,52 so với 15,61 [10], [11]. Theo TĐTDS năm 2009, nam kết hôn ở tuổi 26,2 cao hơn 1 tuổi so với TĐTDS năm 1999, nữ ở tuổi 22,8 [42].
So với SAVY 1, tuổi QHTD lần đầu của TN trong SAVY 2 có xu hướng giảm. Ở SAVY 1, tuổi QHTD lần đầu trung bình của toàn mẫu là 19,6; đối với nam là 20 tuổi, và đối với nữ là 19,4 tuổi. Ở SAVY 2, tuổi QHTD lần đầu trung bình đối với toàn mẫu chỉ là 18,1 tuổi, giảm 1,5 tuổi so với TN trong SAVY 1. Con số này đối với nam là 18,2 tuổi (giảm 1,8 tuổi) và đối với nữ là 18 tuổi (giảm 1,4 tuổi) [10], [11].
Nhiều tác giả khác cũng có nhận xét là tuổi dậy thì có xu hướng giảm đi, các bé gái có xu hướng ngày càng dậy thì sớm hơn. 95% bé gái dậy thì bắt đầu trong khoảng 9- 13 tuổi [34], Do đó, đối tượng được lựa chọn để nghiên cứu về SKSS ở HS THCS lứa tuổi chủ yếu từ 12-15 tuổi là rất cần thiết, phù hợp với xu hướng dậy thì sớm của VTN hiện nay. QHTD không an toàn dẫn đến mang thai ngoài ý muốn, NPT không an toàn. Điều này ảnh hưởng không tốt tới SK và tinh thần của VTN.
Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu lại thiếu về vấn đề NPT và cưỡng bức TD. Đây là hành vi cực kỳ quan trọng khi thảo luận về SKSS VTN [48]. Nghiên cứu khác cho thấy VTN thiếu hụt lớn kiến thức về TD, mang thai, BPTT. Xu hướng VTN ngày càng dậy thì sớm hơn, QHTD sớm hơn phản ánh nguy cơ liên quan QHTD không an toàn, SKSS ở VTN cần được quan tâm hơn [26] Có khoảng 55% nam và 5,5% nữ thanh thiếu niên từng xem băng đĩa và trang web khiêu dâm, 21,3% thường xuyên xem phim trực tuyến trên internet và in sao vào ổ ghi cá nhân.
Hơn 49% nam VTN từng xem thừa nhận bị kích thích và 23% muốn bắt chước hành vi trên phim. Nam VTN chưa kết hôn xem phim ảnh khiêu dâm có quan niệm về TD trước hôn nhân cởi mở hơn (OR hiệu chỉnh = 2,15) và đồng thời dự báo hành vi QHTD trước hôn nhân (OR hiệu chỉnh = 10,5) [18]. Cùng với tình hình chung của cả nước, thành phố Hà Nội, đặc biệt là huyện Thanh Trì đang rất quan tâm đến công tác CSSK VTN thông qua các hoạt động tuyên truyền giáo dục, tư vấn và cung cấp dịch vụ SKSS thân thiện cho VTN, TN, 3 đặc biệt việc cập nhật số liệu về SKSS VTN đã được đề cập trong kế hoạch hoạt động và giao chỉ tiêu chương trình CSSKSS năm 2010(32]. Trong đó, huyện Thanh Trì cũng đang rất quan tâm đấn đề CSSKSS VTN ở xã Tân Triều vì đây là xã có khoảng 12.500 VTN, TN tuổi 10- 25, chiếm tỷ lệ VTN, TN cao nhất của VTN, TN toàn huyện (23%).
Tỷ lệ VTN, TN này, chiếm trên 50% DS toàn xã. Trong đó, có trên 7000 HS, sinh viên đến học tập tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và lao động thời vụ tại các công ty, HTX trên địa bàn và các địa bàn lân cận. Xã Tân Triều là xã có sự đô thị hoá nhanh chóng, diện tích đất canh tác bị thu hẹp dần do cơ cấu kinh tế chuyển đổi sang sản xuất công nghiệp, cơ sở hạ tầng giao thông đô thị phục vụ dân sinh đã được nâng cấp nhiều, đời sống văn hoá xã hội của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Song, xã Tân Triều cũng xuất hiện nhiều bức xúc trong quá trình đô thị hoá như DS di biến động thường xuyên, môi trường nước và không khí ô nhiễm nặng nề [32], [37].
Trường THCS Tân Triều hiện có 673 HS chia làm 18 lớp (trung bình mỗi lớp có 37 HS), 4 khối: Khối 6 có 157 HS chia 4 lớp; Khối 7 có 159 HS chia 5 lóp; Khối 8 có 190 HS chia 5 lớp; Khối 9 có 167 HS chia 4 lớp. Ban Giám hiệu nhà trường và một số phụ huynh HS đang lo lắng về một số hiện tượng của HS như “yêu sớm” của một số em khối 8 và 9. Hiện nay, nhà trường cũng đang triển khai các hoạt động nhằm tăng cường giáo dục DS, SKSS trong việc tích hợp các nội dung này trong một số môn học và các hoạt động ngoại khóa của nhà trường, nhưng nhà trường vẫn còn gặp nhiều khó khăn khi triển khai vấn đề này. Nhà trường cũng đang boăn khoăn về kiến thức, thái độ của HS về vấn đề SKSS VTN hiện nay như thế nào? Có những yếu tố nào liên quan đến kiến thức và thái độ về vấn đề này? Nhu cầu về nội dung và hình thức truyền thông, giáo dục nào phù hợp với HS hiện nay? Kỹ năng cung cấp thông tin và kiến thức như thế nào để các em dễ tiếp thu? Mặt khác, hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu về SKSS VTN ở lứa tuổi HS THCS, đặc biệt là các vùng đô thị hoá nhanh, có nhiều dân di cư.
Nghiên cứu SAVY 1 và 2 lựa chọn ĐTNC là VTN và TN từ 14-25 tuổi [10], [11], Dự án Mô hình CSSKSS VTN/TN, Bộ Y tế đã chọn 33,7% HS THCS (170 HS/582 VTN,TN) ở địa bàn triển khai dự án là Hà Nội, Quảng Bình và Long An để khảo sát đánh giá 4 về CSSKSS VTN, TN. Tuy nhiên chưa có số liệu phân tích riêng về hiểu biết và nhu cầu truyền thông về SKSS của lứa tuổi này [12]. Chính vì thế, chúng tôi triển khai nghiên cứu: “Kiến thức, thái độ về SKSS VTN và một số yếu tố liên quan của HS Trường THCS Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội năm 2010”. Trong nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn một số vấn đề SKSS phù hợp với lứa tuổi của HS THCS, chúng tôi giới hạn nội dung về SKSS VTN trong nghiên cứu này bao gồm 4 nội dung sau: 1.
Tình dục an toàn 5 MỤC TIÊU NGHIÊN cứu Mục tiêu chung Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ về SKSS VTN và một số yếu tố liên quan của HS Trường THCS Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội năm 2010. Mục tiêu cụ thể 1. Mô tả thực trạng kiến thức về SKSS của HS Trường THCS Tân Triều, Thanh Trì, Hà Nội năm 2010. Mô tả thực trạng thái độ về SKSS của HS Trường THCS Tân Triều, Thanh Trì, Hà Nội năm 2010.
Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ về SKSS VTN của HS Trường THCS Tân Triều, Thanh Trì, Hà Nội năm 2010. TÓNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm liên quan: 1. Giới Thuật ngữ “Giới” hiện có nhiều khái niệm khác nhau: Theo Luật Bình đẳng giới năm 2006: “Giới chỉ đặc điểm, vai trò, vị trí của nam và nữ trong tất các các mối quan hệ xã hội” [27] Một định nghĩa khác cũng được sử dụng rộng rãi trong các chương trình quốc gia: “Giới là một thuật ngữ nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ, bao gồm việc phân chia lao động, các kiếu phân chia nguồn lực và lợi ích” [33] Hiểu biết về các vấn đề SK của phụ nữ không thể tách rời được với nhận biết về giới và vai trò của giới trong việc duy trì SK và phòng bệnh.
Giới là một thuật ngữ dùng để chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xã hội và những kỳ vọng liên quan đến nam và nữ [34]. Khác với giới tính là các đặc điểm sinh ra đã có, các đặc điểm giới của nam và nữ được hình thành trong quá trình lớn lên của mỗi cá nhân với các môi trường văn hoá, xã hội (gia đình, nhà trường, nơi làm việc, phương tiện thông tin đại chúng. Giới là sự mong muốn, quy định của xã hội về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi của nam và nữ. Trong khi các đặc điểm giới tính rất ít thay đối thì các đặc điểm về giới lại rất đa dạng tuỳ thuộc vào điều kiện địa lý, thể chế xã hội, lịch sử.
Giới tính Có nhiều khái niệm về “giới tính”, cụ thể như sau: Theo Luật Bình đẳng giới năm 2006: “Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam và nữ” [27].