ĐẶT VẤN ĐỀ Sức khỏe sinh sản vi ̣thành niên là một trong những nội dung quan trọng trong Chiế n lươ ̣c quố c gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản , song hiê ̣n nay, sức khỏe sinh sản vi ̣thành niên vẫn coǹ rấ t nhiề u vấ n đề nổ i cô ̣m, bất cập mà chúng ta cần phải quan tâm. Vị thành niên chiếm một tỷ lệ khá lớn trong dân số Viê ̣t Nam (chiế m 22-23%) và có sự hiểu biết tương đối phong phú về các khía cạnh khác nhau của sức khỏe sinh sản vị thành niên như tuổi dậy thì, tâm lý lứa tuổi, tình bạn khác giới, tình yêu, tình dục, thụ thai, các biện pháp tránh thai, các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, HIV/AIDS. Tuy nhiên, sự hiểu biết này còn sơ sài, phiến diện và nhiều khi thiếu chính xác do các kiến thức mà các em có được từ lĩnh vực này không phải từ nhà trường mà chủ yếu từ các kênh truyền thông đại chúng và sách báo hoặc tự trao đổi với bạn bè. Kiế n thức của vi thành ̣ niên về chăm sóc sức khỏe sinh sản đă ̣c biê ̣t là vấ n đề mang thai, nạo phá thai, các bệnh nhiễm khuẩ n đường sinh sản và các bê ̣nh lây truyề n qua đường tình dục, HIV/AIDS cũng rấ t ha ̣n chế ngay cả ta ̣i những thành phố và thi ̣xa.
̃ Công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản vị thành niên còn nhiều bất cập, một bộ phận nhân dân, nhất là tuổi vị thành niên chưa hình thành được ý thức và thói quen tự bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ sinh sản. Muốn chăm sóc và tự bảo vệ thì vị thành niên cần phải có hiểu biết và có thái độ đúng về sự phát triển thể chất, tâm lý và sinh lý trong thời kỳ này đồng thời cũng cần có một số hiểu biết về sức khoẻ sinh sản để biết cách tự chăm sóc mình. Trong thời điể m bù ng nổ thông tin như hiê ̣n nay , tuổ i vi ̣thành niên cũng chịu rất nhiều tác động của các phương tiện thông tin đại chúng , trong đó, không loa ̣i trừ các hin ̀ h ả nh khiêu dâm, kích dục. Nhiề u vi ̣thành niên có hoạt động tình dục nhưng la ̣i không có kiế n thức về sức khỏe sinh sản.
2 Tại Việt Nam, theo Tổng điều tra dân số năm 1999, có tới 50% số vi ̣ thành niên còn thiếu kiến thức về giới tính , dấ u hiê ̣u dâ ̣y thì , các biện pháp tránh thai, tác hại của nạo hút thai và cách phòng chống lây truyền qua đường tình dục [26]. Những vấn đề này đe dọa trực tiếp đến sức khoẻ sinh sản vị thành niên và đang trở thành sự quan tâm của Viê ̣t Nam và của các nước trong khu vực cũng như trên thế giới. Với lối sống hiện nay, số vị thành niên quan hệ tình dục trước hôn nhân tăng, tình trạng nạo phá thai tăng, hiện tượng lạm dụng tình dục trẻ em cũng có xu hướng tăng, đã và đang diễn ra tại các trường trung học phổ thông. Nâng cao kiế n thức , thái độ, kỹ năng thực hành và khả năng tiế p câ ̣n các dich ̣ vu ̣ chăm sóc sức khỏe có chấ t lươ ̣ng cho vi ̣thành niên , nhằ m giúp cho vi ̣ thành niên trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục, phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục , HIV/AIDS, hạn chế , tiế n tới gi ảm tin ̀ h tra ̣ng có thai ngoài ý muốn , nhiễm HIV /AIDS của vị thành niên là mục tiêu của công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên [43].
Bắc Giang là một tỉnh miền núi, công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản đố i với vi ̣thành niên cũng trong tình trạng chung của cả nước. Công tác này chưa được quan tâm đúng mức: khoảng 55% vị thành niên, thanh niên chưa từng được nghe nói về tâm sinh lý tuổi dậy thì, 18% nữ thanh thiếu niên đã từng nạo phá thai [39]. Xuất phát từ lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về sức khỏe sinh sản của học sinh trung học phổ thông thành phố Bắc Giang và hiê ̣u quả can thiê ̣p”. Nghiên cứu được tiến hành với 2 mục tiêu: 1.
Mô tả thực tra ̣ng kiế n thức, thái độ và thực hành về sức khỏe sinh sản của học sinh trung ho ̣c phổ thôngthành phố Bắc Giangnăm học 2010 - 2011. Đánh giá hiệu quả của biện pháp truyề n thông giáo dục sức khoẻ. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Mô ̣t số khái niêm ̣ 1.
Khái niệm về vị thành niên Tuổi vị thành niên (VTN) là thời kỳ phát triển đặc biệt, là sự lớn lên và trưởng thành của trẻ em để trở thành người lớn cả về thể lực, trí tuệ và khả năng hoà nhập cộng đồng. Đây là thời kỳ xảy ra đồng thời hàng loạt nhiều thay đổi bao gồm: sự lớn lên và trưởng thành về cơ thể, sự biến đổi về tâm lý các mối quan hệ xã hội. Theo quy ước của Tổ chức Y tế thế giới, lứa tuổi VTN nằm trong khoảng 10 – 19 tuổi; được chia thành 3 thời kỳ phát triển: Thời kỳ VTN sớm: từ 10 – 13 tuổi, Thời kỳ VTN giữa: từ 14 – 16 tuổi, Thời kỳ VTN muộn: từ 17 – 19 tuổi [5], [8]. Khái niệm VTN được thừa nhận về mặt văn hóa xã hội là một giai đoạn chuyển tiếp giữa tuổi ấu thơ và tuổi trưởng thành, con người trong độ tuổi này thay đổi rất nhiều tùy theo các dân tộc, trong mỗi dân tộc lại tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau [8].
Sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục. Trong hô ̣i nghi ̣Quố c tế về Dân số và phát triể n ở Cairo năm 1994, sức khỏe sinh sản đượcTổ chức Y tế Thế giới (WHO) đinh ̣ nghiã như sau: "Sức khỏe sinh sản (SKSS) là sự thoải mái hoàn toàn về thể chất, tinh thầ n và xã hội, chứ không chỉ đơn thuầ n là không có bê ̣nh tật hoặc tàn phế của hê ̣ thống sinh sản, chức năng và quá trình sinh sản. Điều này cũng hàm ý là mọi người, kể cả nam và nữ, đều có quyền được nhận thông tin và tiếp cận dịch vụ SKSS, các biện pháp kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) an toàn, có hiệu quả và chấp nhận được 4 theo sự lựa chọn của mình, bảo đảm cho người phụ nữ trải qua quá trình thai nghén và sinh đẻ an toàn, tạo cho các cặp vợ chồng có cơ may tốt nhất để sinh con khỏe mạnh” [3], [4], [14]. Sức khỏe sinh sản VTN cầ n đươ ̣c nhìn nhâ ̣n mô ̣t cách toàn diê ̣n , sức khỏe phát triển thể chất , sức khỏe phát triển trí tuệ, tâm thầ n và khả năng hòa nhâ ̣p với cô ̣ng đồ ng.
VTN nói riêng và cô ̣ng đồ ng nói chung có quyề n đươ ̣c nhâ ̣n thông tin về SKSS, quyề n đươ ̣c tiế p câ ̣n và nhận dịch vụ chăm sóc SKSS (các dịch vụ về bảo vệ sức khỏe bà mẹ, KHHGĐ, sức khỏe tình du ̣c .) và tự do lựa chọn các dịch vụ đó phù hợp với điều kiện kinh tế , văn hóa , xã hô ̣i và sức khỏe của từng người. Sự lớn lên và trưởng thành ở VTN có thể xảy ra với tốc độ khác nhau giữa các cá nhân, phụ thuộc vào các yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội và văn hoá. Do đó sự phân chia về độ tuổi này chỉ mang tính chất tương đối. Tuổi này ít mắc bệnh, tỷ lệ tử vong thấp nhất nên vấn đề sức khoẻ của họ hầu như bị lãng quên.
Song trong quá trình phát triển, sự thiếu kiến thức đã dẫn tới quyế t đinh ̣ không đúng của VTN liên quan đế n sức khỏe và SKSS như quan hê ̣ tin ̀ h dục bữa baĩ gây nên những hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe và tương lai trong suốt cuộc đời của họ là: - Nhiều VTN có thai nghén sinh đẻ quá sớm, nhất là VTN có thai nghén sinh đẻ ngoài ý muốn; - Các bệnh lây lan theo đường tình dục mà họ mắc phải có thể làm cho họ phải chịu đựng lâu dài, có khi trở thành vô sinh; - Giai đoạn này sự sinh đẻ, thai nghén sẽ làm VTN gián đoạn việc học tập, tổ n ha ̣i cho chin ́ h bản thân ho ̣, gia điǹ h và xã hô ̣i. Qua nghiên cứu cho thấy VTN nước ta và nhiều nước khác đang bước vào tuổi dậy thì và tuổi sinh sản sớm hơn trước. Nhiều hiểm hoạ đe dọa sức khoẻ do hoạt động tình dục không được bảo vệ ngày càng nhiều hơn; thiếu nữ 5 chưa có chồng mà đã có thai là đối tượng nguy cơ của nạo phá thai không an toàn, bất hợp pháp. Theo tổ chức Y tế thế giới: " Sức khỏe tình dục (SKTD) là sự tổng hợp các khía cạnh thể chất, trí thức và xã hội của con người, sao cho cuộc sống con người phong phú hơn, tốt đẹp hơn về nhân cách, về giao tiếp và tình yêu" [2], [34].
Theo định nghĩa của WHO, vị thành niên “là giai đoạn khác biệt và năng độngcủa con người, là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em sang người trưởng thành được đánh dấu bằng sự phát triển vượt bậc về thể chất, tinh thần, tình cảm và xã hội”[2]. Khái niệm về kiến thức, thái độ và hành vi - Kiế n thức hay hiể u biế t của mỗi người đươ ̣c tić h lũy dầ n qua quá triǹ h học tập và kinh nghiê ̣m thu đươ ̣c trong cuô ̣c số ng. Mỗi người có thể thu đươ ̣c kiế n thức từ thày cô giáo , cha me ,̣ bạn bè , đồ ng nghiê ̣p , những người xung quanh, sách vở và các phương tiện thông tin đại chúng cung cấp [33]. Kiế n thức là một trong các yế u tố quan tro ̣ng giúp con người có các suy nghĩ và tình cảm đúng đắn , từ đó dẫn đế n hành vi phù hơ ̣p trước mỗi sự viê ̣c.
Kiế n thức của mỗi người đươ ̣c tić h lũy trong suố t cuô ̣c đời. Có các kiến thức hay hiể u biế t về bê ̣nh tâ ̣t , sức khỏe và bảo vê ,̣ nâng cao sức khỏe là điề u kiê ̣n cầ n thiế t để mo ̣i người có cơ sở thực hành các hành vi sức khỏe lành ma ̣nh .