CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số định nghĩa, khái niệm về sức khỏe sinh sản vị thành niên Vị thành niên (VTN): Vị thành niên là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em thành người trưởng thành. Ở giai đoạn này các em có đặc điểm tâm sinh lý đặc thù như thích thử nghiệm, thích khám phá năng lực bản thân, mở rộng mối quan hệ mới. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng vị thành niên Việt Nam đang đối mặt với nhiều vấn đề về sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục như quan hệ tình dục sớm, quan hệ tình dục không an toàn, mang thai ngoài ý muốn, mắc các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục, lạm dụng các chất gây nghiện.Thiếu hiểu biết, thiếu kỹ năng, đặc biệt thiếu tiếp cận với các nguồn thông tin tin cậy cũng như các dịch vụ tư vấn dự phòng và hỗ trợ, chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục là những nguyên nhân khiến vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản của vị thành niên càng trở nên trầm trọng hơn [9].
Tuổi vị thành niên: Tuổi vị thành niên (VTN). Theo Quyết định số 3781/QĐ-BYT ngày 28/8/2020 về việc ban hành “Kế hoạch hành động quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục cho vị thành niên, thanh niên giai đoạn 2020-2025 và theo Hướng dẫn Quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản (Bộ Y tế, 2016), tuổi VTN là lứa tuổi 10-18. Độ tuổi vị thành niên chia thành 3 giai đoạn: giai đoạn tiền VTN: 10-13 tuổi; giai đoạn trung VTN: 14-16 tuổi; giai đoạn hậu VTN: 17-18 tuổi[9], [8]. Sức khỏe sinh sản: Là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội mà không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật hay ốm đau liên quan đến hệ thống sinh sản.
SKSS do đó ngụ ý rằng mọi người có thể có một cuộc sống tình dục hài lòng và an toàn; họ có khả năng sinh sản và tự quyết định về thời điểm sinh sản [9]. Sức khỏe sinh sản vị thành niên: Là tình trạng khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội của tất cả những gì liên quan đến cấu tạo và hoạt động của bộ 4 máy sinh sản ở tuổi vị thành niên, chứ không chỉ là không có bệnh hay khuyết tật của bộ máy đó. Tại Việt Nam, công tác chăm sóc SKSS cho phụ nữ ở nước ta trong những thập kỷ qua đã đạt được nhiều tiến bộ đáng khích lệ, đã được Đảng và Nhà nước đánh giá cao. Mặc dù công tác chăm sóc SKSS cho phụ nữ giữ một vai trò hết sức quan trọng; tuy nhiên, chưa được thực hiện như mong đợi, nhất là đối với phụ nữ ở các vùng khó khăn, vùng núi cao và dân tộc thiểu số [33].
Bên cạnh đó, năng lực cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS cho người dân nói chung, vị thành niên nói riêng tại y tế tuyến cơ sở còn hạn chế. Trình độ kỹ thuật, điều kiện cơ sở vật chất, dịch vụ chăm sóc y tế thiếu thốn, lạc hậu cùng với các thói quen và kiến thức hạn chế của các bà mẹ trong khi mang thai và khi sinh là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình sức khỏe bà mẹ. Ngoài ra, một số vấn đề về thực hành khám thai, sử dụng biểu đồ chuyển dạ và tư vấn sau sinh của các cán bộ y tế, trong đó có các cán bộ trạm y tế xã còn thấp hơn so với yêu cầu của Hướng dẫn Quốc gia. Đây cũng là một trong những lý do dẫn tới việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ CSSKSS của người dân còn hạn chế [11], [22], [33], [32], [38].
Những đặc trưng cơ bản của tuổi vị thành niên Tuổi dậy thì là giai đoạn chuyển tiếp giữa tuổi thiếu nhi và tuổi trưởng thành. Đây là giai đoạn đặc biệt trong quá trình phát triển của một con người vì có sự thay đổi mạnh mẽ về cả thể chất, tinh thần, tình cảm và cách ứng xử. Tuổi dậy thì thường diễn ra trong khoảng từ 10 đến 18 tuổi và được chia thành 3 giai đoạn (theo sự thay đổi tâm, sinh lý) [10]. - Giai đoạn đầu (10 – 13 tuổi): là giai đoạn khởi đầu của tuổi dậy thì.
Cơ thể phát triển một cách nhanh chóng. Những thay đổi trên cơ thể thường làm cho một số bạn bối rối, e thẹn và lo lắng. Bạn bè cùng tuổi trở nên vô cùng quan trọng, đôi khi các em lo lắng không biết các bạn khác nghĩ gì về mình [10]. 5 - Giai đoạn giữa (14 – 16 tuổi): ở độ tuổi này, các em tự nhận thấy những thay đổi rõ rệt trên cơ thể mình, tự cảm nhận mình có vẻ người lớn hơn, muốn khám phá về người khác, có nhu cầu tình yêu và tình dục.
Các em thường kết bạn theo nhóm bạn thân và mỗi nhóm có phong cách riêng [10]. - Giai đoạn cuối (17 – 18 tuổi) độ tuổi này các em đã khá độc lập trong suy nghĩ, ứng xử và chọn bạn; có quan niệm cụ thể về vẻ đẹp và yêu đương một cách thực tế; bắt đầu có quan điểm riêng về đạo đức và cách ứng xử trong xã hội [10]. Những thay đổi tâm, sinh lý tuổi dậy thì Tuổi dậy thì là thời kỳ phát triển đặc biệt, trong đó xảy ra đồng thời hàng loạt những biến đổi nhanh chóng cả về cơ thể cũng như sự biến 18 đổi tâm lý và các mối quan hệ xã hội. Cha mẹ, thầy cô giáo, cán bộ y tế cần hiểu rõ về các đặc điểm tâm sinh lý và những thay đổi trong độ tuổi này để tiếp cận, hỗ trợ các em một cách phù hợp, thân thiện và hiệu quả [10].
- Thay đổi về tâm lý Ở tuổi dậy thì, các em thường có những biểu hiện về tâm lý như sau: + Cảm xúc thay đổi thất thường, khó kiểm soát được tâm trạng, dễ dàng tức giận vô cớ, đôi khi im lặng hoặc đáp lại câu hỏi của người lớn một cách thiếu lễ phép; + Thích thể hiện cái “tôi” của mình, muốn khẳng định bản thân trước mặt nhiều người; + Muốn làm chủ suy nghĩ và hành động của mình nhiều hơn trước; + Mong muốn tìm hiểu kỹ lưỡng về cấu tạo của cơ thể mình, bắt đầu quan tâm đến làm đẹp thường xuyên hơn; + Rất dễ rung động về mặt tình cảm, đôi khi nhầm lẫn giữa tình cảm bạn bè và tình yêu đôi lứa; 6 + Có mong muốn kết nối với nhiều bạn bè, hành vi của các em chịu nhiều ảnh hưởng từ nhóm bạn chơi cùng. - Thay đổi về sinh lý Sự biến đổi về chiều cao và hình dáng là do sự phát triển nhanh của các xương dài ở tay, chân. Ở các em nữ bắt đầu có sự tích tụ mỡ ở ngực, chậu hông và đằng sau vai, ở các em nam có sự phát triển và tích tụ mỡ ở các khối cơ. Đến cuối tuổi dậy thì, các em đã trở thành những chàng trai, cô gái với vóc dáng, khả năng thể chất và sức mạnh khác nhau [10].
Các nội dung chăm sóc sức khỏe sinh sản 1. Nội dung chính của chăm sóc sức khỏe sinh sản ở Việt Nam Tại Việt Nam, chăm sóc sức khỏe sinh sản chia thành 10 nội dung: - Làm mẹ an toàn. - Chăm sóc sơ sinh - Kế hoạch hóa gia đình. - Phá thai an toàn.
- Giáo dục sức khỏe sinh sản cho vị thành niên. - Phòng các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản và các bệnh lây truyền qua đường tình dục. - Nam học - Một số nội dung khác (khám sức khỏe trẻ em, ngăn chặn bạo hành phụ nữ, theo dõi sức khỏe bà mẹ và trẻ em, tình dục đồng giới) [8]. Nội dung chính về giáo dục sức khỏe sinh sản cho vị thành niên Giáo dục sinh lý kinh nguyệt.
Giáo dục vệ sinh cho vị thành niên nữ, vệ sinh kinh nguyêt. Giáo dục tình bạn, tình yêu lành mạnh. 7 Giáo dục về sức khỏe tình dục và tình dục an toàn nhằm giảm gánh nặng dân số, bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản kể cả nhiễm HIV/AIDS cũng như lợi ích của việc sử dụng bao cao su. Giáo dục sinh lý thụ thai và các biện pháp tránh thai.
Những dấu hiệu có thai. Những nguy cơ do thai nghén sớm. Nguy cơ có thai ngoài ý muốn [10]. Các dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe vị thành niên Kinh nguyệt và xuất tinh ở vị thành niên.
Những đặc điểm giải phẫu, tâm sinh lý trong thời kỳ vị thành niên. Tình dục an toàn và đồng thuận. Các biện pháp tranh thai cho vị thành niên và thanh niên. Mang thai ở vị thành niên.
Vị thành niên và thanh niên với vấn đề bạo hành. Kỹ năng sống liên quan đến SKSS/sức khỏe tình dục của vị thành niên Dịch vụ sức khỏe thân thiện với vị thành niên và thanh niên. Thăm khám SKSS cho vị thành niên và thanh niên. Sử dụng chất gây nghiện ở vị thành niên và thanh niên Chăm sóc SKSS cho nhóm vị thành niên/thanh niên yếu thế.
Tư vấn sức khỏe sinh sản vị thành niên và thanh niên [10]. Dịch vụ sức khỏe thân thiện với vị thành niên Lứa tuổi vị thành niên là lứa tuổi phải đối mặt với nhiều rủi ro và thách thức, thậm chí có những rủi ro vượt ngoài phạm vi kiểm soát của gia đình. Do đó, sự quan tâm của xã hội là một đòi hỏi cần thiết trong quá trình chăm sóc sức khỏe vị thanh niên. Các dịch vụ và hỗ trợ và chăm sóc y tế vị thanh niên đã ra đời nhằm đáp ứng những yêu cầu trên.
Trong đó, dịch vụ sức khỏe thân thiện 8 với vị thành niên là một trong những dịch vụ tiêu biểu trong việc hỗ trợ và chăm sóc sức khỏe vị thành niên một cách hiệu quả. Dịch vụ sức khỏe thân thiện với vị thành niên đáp ứng nhu cầu của những thanh thiếu niên trong lứa tuổi này một cách tế nhị và có hiệu quả. Dịch vụ này sử dụng tối đa các nguồn lực y tế nhằm đảm bảo quyền lợi và chăm sóc sức khỏe vị thành niên một cách hiệu quả nhất. Dịch vụ sức khỏe thân thiện với vị thành niên phải là các dịch vụ có thể tiếp cận được và phù hợp với vị thành niên.
Dịch vụ sức khỏe thân thiện với vị thành niên cần đảm bảo các tiêu chuẩn như địa điểm, giá cả phù hợp, an toàn, phục vụ theo những cách thức mà vị thành niên chấp nhận được nhằm đáp ứng nhu cầu của vị thành niên và khuyến khích các em trở lại cơ sở y tế khi cần, cũng như giới thiệu dịch vụ với bạn bè [8].