CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Những khái niệm chung về vị thành niên và sức khoẻ sinh sản vị thành niên 1. Vị thành niên Theo quy ước của WHO, vị thành niên (adolescent) là những người trong độ tuổi 10-19. Như vây những người này ở tuổi thiếu niên và trước tuổi trưởng thành.
Khái niệm vị thành niên (VTN) được thừa nhận về mặt văn hoá là giai đoạn chuyển tiếp giữa tuổi ấu thơ và tuổi trưởng thành. Trong giai đoạn này con người thay đổi rất nhiều tuỳ thuộc vào các yếu tố môi trường gồm môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và các yếu tố nhân học [13, 17]. Trong một số nước đang phát triển, thời kỳ VTN không hoàn toàn được thừa nhận như vây, mà phổ biến là các lễ nghi đặc biệt đánh dấu bước chuyển tiếp đột ngột từ trẻ con sang người lớn (lễ đình, lễ chùa. Ó các nước phát triển người ta thừa nhận một cách phổ biến giai đoạn sau trẻ em và trước người lớn của quá trình phát triển cá thể, đó là thời kỳ VTN.
Thời kỳ VTN được đặc trưng bởi sự phát triển rất nhanh về cà thể chất và trí tuệ. Giai đoạn phát triển th ể l ực này ch ỉ kém tốc độ phát triển của bào thai và những tháng nãm đđu của trẻ. Thời kỳ VTN cũng đánh dấu những bước phát triển lớn về mặt xã hội, xu hướng muốn thoát ra t ừ phạm vi gia đình vào tập thể cùng lứa tuổi, cùng nhóm và phát triển những kỹ năng mới. Ngày nay VTN trưởng thành về mặt tình dục sớm hơn, hôn nhân muộn hơn và những thay đổi về hình thức gia đình đã góp phán vào s ự ch ấp nh ận tu ổi VTN như một giai doạn dặc biệt của cuộc đời [34], 3 Tuổi VTN đôi khi cũng được phân định thành: vị thành niên sớm (1014 tuổi), vị thành niên trung bình (15-17 tuổi) và vị thành niên muộn (1819 tuổi).
Trong tình hình nước ta hiện nay, một số tác giả đề nghị xếp tuổi VTN thành 2 nhóm: 10- 14 và 15-19 tuổi (Đỗ Trọng Hiếu và Cs, 1997) [13]. Hiện nay trên thế giới khoảng 1/5 dân số thuộc lứa tuổi VTN. Hơn 50% dân số thế giới thuộc lứa tuổi dưới 25, trong đó 80% hiện đang sống tại các nước đang phát triển. Những nước có nền kinh tế kém phát triển thì dân số lại càng trẻ.
Hơn 1,5 tỷ dân ngày nay ở độ tuổi 10-24, chiếm 30% dân số thế giới [13,17,18,43]. Bảng dưới đây cho ví dụ về xu hướng dân số trong nhóm tuổi VTN 10-19 ở một số vùng của các nước đang phát triển (trích dẫn từ 45): Dân Số-Năm Dân số 10-19 tuổi (.000) % SO với tổng số Vùng 1975 1995 2025 1975 1995 2025 Châu Phi 94.508 21,8 19,2 15,1 Châu Mỹ Latinh 74.495 23,2 21,3 15,7 Các nước đang phát triển 676.778 22,3 20,2 16,6 Nguồn: Liên hợp quốc (1997). Theo Tổng điều tra Dân số năm 1989, ở Việt Nam lứa tuổi VTN chiếm 22,48% tổng số dân, trong đó lứa tuổi 10-14 chiếm 11,69%, tuổi 15-19 chiếm 10,79%, nam 15-19 tuổi đã lấy vợ là 4,3%, nữ 15-19 tuổi đã l ấy ch ồng là 10,9% [25]. Sức khoẻ sinh sản Sức khoẻ sinh sàn (SKSS) là một bộ phận rất quan trọng của sức kho ẻ con người.
SKSS gắn với toàn bộ cuộc đời con người từ giai đoạn bào thai đến lúc tuổi già. 4 Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển năm 1994 tại Cairô (Ai cập) đã đưa ra định nghĩa về SKSS như sau: “SKSS là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã h ội chứ không phải là không có bệnh tật, không tàn phê' trong mọi lĩnh v ực có liên quan đến hệ thống chức năng và quá trình sinh sản” [20,26,28]. Như vậy SKSS không chỉ là chuyện sinh đẻ mẹ tròn, con vuông mà còn là một cuộc sống tình dục an toàn, hoà hợp, có khả nãng sinh đẻ, tự quyết định thời điểm sinh đẻ họp lý với số con mong muốn, có quyền nhận thông tin về SKSS, quyền tiếp cận với những phương tiện, dịch vụ chăm sóc SKSS (bao gồm các dịch v ụ v ề b ảo vệ sức khoẻ BMTE/KHHGĐ.) và tự do lựa chọn dịch vụ đó phù họp với điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội và sức khoẻ cúa từng người. Trong chu kỳ cuộc sống của con người có rất nhiều giai đo ạn, tuy nhiên có hai giai đoạn phát triển mà SKSS rất dễ bị tổn thương đó là giai đoạn thai nhi, trẻ nhỏ và giai đoạn VTN, trong tuổi sinh đẻ.
Trong thời kỳ VTN, nếu không được giáo dục, tư vấn và thiếu thông tin về SKSS sẽ dẫn đến lình trạng quan hệ tình dục sớm. Kết quả là nạo phá thai, sinh con trong tuổi VTN và rất dễ d ẫn đ ến bi ến ch ứng hoặc tử vong [341. Hơn nữa VTN là một lực lượng quan trọng trong tương lai, những kiến thức về SKSS như tình yêu, hôn nhân, quan hệ tình dục, các biện pháp tránh thai, các bệnh lây qua dường tình dục đối với họ là nền tảng cho việc giữ gìn, tăng cường sức khoẻ và sức khoẻ sinh sản [7,9,10,13,18]. Các nghiên cứu vê sức khoẻ sinh sản vị thành niên trên thê giới 2.
Tình hình nạo, hút thai và sinh đẻ của vị thành niên trên thế giới Trên thế giới, các nghiên cứu về SKSS vị thành niên đã được tiến hành có chiều sâu từ năm 1975 tại các nước thuộc các khu vực khác nhau như châu A. châu Phi, châu Mỹ La tinh, Nam Mỹ, châu Au và Trung Cận đông, khi có khoảng 13 triệu trong số 60 triệu phụ nữ trờ thành các bà mẹ ở tuổi 5 chưa trưởng thành [51]. Hiện nay khoảng trên 15 triệu VTN nữ 15-19 tuổi sinh con hàng năm. Hầu hết số này ở các nước đang phát triển [41,52].
ơ châu Phi trên một nửa số phụ nữ đã có thai trước 20 tu ổi, ở châu Mỹ La tinh số này là trên 1/3 [49]. Mỹ là nước có tỷ lệ nữ VTN mang thai sớm cao nhất trong các nước phát triển và có khoảng 20% số phụ nữ đẻ trước tuổi 20 [38]. Nãm 1996 một nghiên cứu ở Mỹ về tình trạng có thai, nạo thai và sinh con ở VTN từ 1980- 1985-1990 cho thấy tỷ lệ có thai của VTN nãm 1985 tăng 9% so với năm 1980, tỷ lệ nạo phá thai trên 1000 ca có thai năm 1980 là 35,8, năm 1990 là 36 [50]. Có thai ở VTN ở nhiều nước trên thê' giới phần lớn là không dự định hoặc ngoài ý muốn nên các thai nghén này thường chấm dứt bằng nạo hút thai, huỷ thai một cách không an toàn và không hợp pháp [10,12,21,24,32,36,38,46].
Ngày nay thai nghén ở VTN đang có khuynh hướng giảm dần. Tuy nhiên ở một số nước đang phát triển dân số trẻ vẫn tăng nhanh, nên số trẻ cm do VTN sinh ra cũng còn tăng. Số con do VTN sinh ra đóng góp chính vào sô' sinh ngày càng nhiều, trong khi đó tỷ lệ sinh giảm nhanh ở những lứa tuổi lớn hơn. Tỷ lệ sinh đẻ của VTN ở các nước khác nhau cũng khác nhau.
Ví dụ trong những nãm cuối thập kỷ 80 có 31% những phụ nữ trẻ ở Ai cập sinh con trước 20 tuổi, trong khi đó tỷ lệ này ở Tunisia là 13% [trích dẫn lừ 13]. Một số nước như Botswana, Liberia đẻ con trước khi cưới được thừa nhận như một phong tục để chứng tỏ khả năng sinh đẻ của phụ nữ. Do đó một tỷ lệ khá lớn trẻ em sinh ra khi bố mẹ chưa có giá thú. Một số cuộc diểu tra mới đây ở châu Mỹ La tinh và vùng biển Caribê cho thấy từ 1/3 đến 2/3 s ố trè sinh ra đ ược th ụ thai trước khi kết hôn [43].
ơ châu Phi thai nghén không dự định dao động từ 50- 90% trong sô VTN chưa có chổng và 25-40% trong số VTN có ch ồng. Kho ảng 40- 50% số tre sinh ra của VTN ở châu Mỹ La tinh và vùng biển Caribe là không dự dịnh ị38]. Nguy cơ về sức khoẻ đôi với thai nghén ở vị thành niên Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy tuổi kết hôn và tuổi sinh đẻ của người mẹ có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của đứa trẻ sinh ra. Tỷ lệ biến chứng do thai nghén cao ở VTN [16,34,36,37,43,56].
Biến chứng do thai nghén ở VTN nhiều hơn ở phụ nữ trên 20 tuổi dù có chồng hay không. Nguy cơ tử vong của VTN do thai nghén cũng cao hơn so với các lứa tuổi khác. Nạo phá thai không an toàn cũng là một nguyên nhân tử vong cao ở tuổi VTN. Một cuộc điều tra ở Matlab, Bangladesh cho thấy tỷ lệ tử vong ở các bà mẹ VTN tuổi 10-14 cao gấp 5 lần so với nhóm 15-19 tuổi và tỷ lệ tử vong ở nhóm 15-19 tuổi này lại cao gấp đôi nhóm 20-24 tuổi [56].
ơ châu Phi trẻ sinh ra từ các bà mẹ VTN có tỷ lệ tử vong trong năm đầu có thể cao hơn tới 40% so với trẻ sinh ra từ các bà mẹ ở tuổi 20 và nguy cơ tử vong còn cao hơn nữa trong nãm thứ 2 [43,56]. Trè sinh ra ở các bà mẹ trẻ dễ bị suy dinh dưỡng từ trong bào thai và suy dinh dưỡng do bà mẹ thiếu kiến thức nuôi dạy trẻ. Ở Kenia 40% các bà mẹ ớ d ộ tuổi 13-14 có con nhẹ cân so với 25% ở tuổi 19 [39]. Các hậu quả kinh té - xã hội của thai nghén và sinh đẻ ở vị thành niên.
Thai nghén sớm trước 20 tuổi làm hạn chế khả năng học tập, làm việc và các cơ may kiếm việc làm. Các bà mẹ VTN có tỷ lệ nghèo gấp 7 lần các bà mẹ lớn tuổi hơn. Xã hội phải chi trả trực tiếp các khoản trợ cấp về y tế và xã hội, trợ cấp khó khăn cho mẹ và con, các chi phí gián tiếp như học vấn thấp và việc làm kém hiệu quả. Tỳ lệ sinh đẻ của VTN cao làm cho tốc độ phát triển dân số tăng nhanh gây cản trở cho công cuộc phát triển kinh tố, xã hội của đất nước [10.
7 Ó Kenia va Tanjania trong những năm 1980 qua điều tra thấy rằng 10% các em gái bỏ học ở trường cấp 2 vì lý do có thai. Một nghiên cứu ở Chile nãm 1992 cho thấy nguy cơ nghèo nàn của những VTN sinh con là do học vấn thấp cộng với ít khả năng kiếm việc làm và cũng thiếu cả sự hỗ trợ từ phía bố của đứa trẻ. Năm 1990 chính phủ Mỹ chi đến 25 tỷ đôla cho các vấn đề xã hội, dịch vụ sức khoẻ và phúc lợi cho các gia đình chỉ có nữ làm chủ và có đ ứa con đ ầu tiên khi chưa đến tuổi 20.