ĐẶT VẤN ĐỀ Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới tính đến hết năm 2014 số ngƣời nhiễm HIV/AIDS trên toàn cầu còn sống là 36,9 triệu ngƣời, số ngƣời chết do HIV/AIDS khoảng 39 triệu ngƣời, trong đó 14,9 triệu ngƣời sống chung với HIV đƣợc điều trị bằng thuốc kháng vi rút (ARV)[67]. Tại Việt Nam tổng số ngƣời nhiễm HIV đang còn sống là 227.114 ngƣời, số bệnh nhân AIDS là 71.115 ngƣời và số tử vong là 74. Liệu pháp điều trị cho ngƣời nhiễm HIV/AIDS bằng thuốc ARV đƣợc triển khai tại nƣớc ta từ năm 2005, đến nay cả nƣớc có 312 phòng khám ngoại trú và 526 điểm cấp phát thuốc ARV tại xã/phƣờng, số ngƣời nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ARV là 95. Số ngƣời nhiễm HIV/AIDS còn sống đƣợc tìm thấy trên địa bàn Hải Dƣơng là 1.
Từ năm 2006, tỉnh đã bắt đầu triển khai chƣơng trình điều trị ARV, hiện đang điều trị cho 1.273 bệnh nhân tại các cơ sở y tế[37]. Quá trình điều trị bằng thuốc ARV rất phức tạp, việc lựa chọn thuốc điều trị cũng đƣợc xem xét tùy từng bệnh nhân. Về nguyên tắc phải kết hợp 3 loại thuốc hoặc nhiều hơn ba loại thuốc kháng retrovirus cùng một lúc, mỗi loại tác động ở những cơ chế khác nhau lên chu trình sao chép của HIV. Sự kết hợp này cũng làm giảm nguy cơ kháng thuốc.
Từ 2008 đã ra đời dạng thuốc viên kết hợp ba trong một, thuận tiện hơn cho việc điều trị. Tác dụng của thuốc ARV làm ức chế sự phát triển và nhân lên của vi rút nên khi ngƣời nhiễm HIV đƣợc điều trị sẽ giảm nguy cơ chuyển sang AIDS, giảm mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội và giảm nguy cơ tử vong. Điều trị bằng thuốc ARV còn làm giảm nguy lây truyền HIV sang ngƣời khác; giúp cải thiện chất lƣợng cuộc sống của ngƣời nhiễm HIV/AIDS và giúp họ tự tin hòa nhập với cộng đồng[3, 5, 7]. Do HIV có tỷ lệ nhân lên và đột biến rất cao, nếu không tuân thủ điều trị (nghĩa là thuốc không đƣợc dùng đều đặn, đủ liều và đúng giờ) sẽ dẫn đến việc nồng độ thuốc trong máu thấp, xuất hiện các đột biến của HIV kháng thuốc.
Khi có hiện tƣợng kháng một loại thuốc trong nhóm xảy ra thì thông thƣờng sẽ dẫn đến việc kháng tất cả thuốc của nhóm đó. Vì thế, việc không tuân thủ một phác đồ điều trị có thể dẫn đến hiện tƣợng 2 HIV kháng lại với nhiều loại thuốc kháng virut do đó trong quá trình điều trị ngƣời nhiễm HIV cần tuyệt đối tuân thủ điều trị. Ngƣời bệnh nên đi khám, theo dõi sức khỏe đều đặn tại cơ sở y tế và xây dựng thời gian biểu dùng thuốc hợp lý, đúng cách[27]. Mặc dù không có tiêu chuẩn vàng để đánh giá sự tuân thủ điều trị, tuy nhiên có nhiều nghiên cứu đã đƣợc tiến hành để đánh giá về tỷ lệ TTĐT ARV ở ngƣời nhiễm HIV/AIDS.
Anuradha và cộng sự (2013) nghiên cứu trên 250 bệnh nhân đang điều trị miễn phí ARV tại Ấn Độ có 96,8% bệnh nhân TTĐT[49]. Nghiên cứu của Emma Rosamond Nony Weaver và cộng sự (2012) tại Indonesia cho thấy có 77% bệnh nhân TTĐT trong 3 tháng qua[48]. Nghiên cứu của Văn Đình Hòa và cộng sự (2013) cho kết quả 64,6% bệnh nhân TTĐT ARV[17]. Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hƣởng đến việc TTĐT có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm ra các biện pháp thích hợp để cải thiện tình trạng không TTĐT.
Một số yếu tố ảnh hƣởng tiêu cực đến TTĐT nhƣ yếu tố cá nhân, độ tuổi, thời gian tham gia điều trị ARV, sử dụng bia rƣợu… đã đƣợc biết đến qua các nghiên cứu của Golin C.E, Nguyễn Thị Thu Trang[36, 51]. Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Hải Dƣơng là đơn vị y tế đi đầu trong lĩnh vực chăm sóc và điều trị cho ngƣời nhiễm HIV/AIDS của tỉnh. Theo nghiên cứu của Đinh Thị Thúy Vân tại Trung tâm năm 2014, tỷ lệ bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS tử vong trong quá trình điều trị ARV là 15,36%, tỷ lệ bỏ điều trị ARV là 17,46%[45]. Để hạn chế những tác động tiêu cực xảy ra trong quá trình điều trị ARV cũng nhƣ đƣa ra một số khuyến nghị nhằm tăng cƣờng hiệu quả, chất lƣợng điều trị ARV tại Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Hải Dƣơng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ARV của người nhiễm HIV/AIDS đang được điều trị tại Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Hải Dương năm 2016”.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả kiến thức và thực hành tuân thủ điều trị ở ngƣời nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ARV tại Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Hải Dƣơng năm 2016. Xác định một số yếu tố liên quan đến thực hành tuân thủ điều trị ở ngƣời nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ARV tại Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Hải Dƣơng năm 2016. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Tình hình nhiễm HIV/AIDS HIV/AIDS là tình trạng bệnh mãn tính không thể chữa khỏi, hệ thống miễn dịch của ngƣời nhiễm HIV/AIDS sẽ bị suy yếu dần dẫn đến tình trạng tử vong do mắc các bệnh NTCH. Hiện nay do chƣa có thuốc điều trị khỏi và chƣa có vắc xin phòng bệnh đặc hiệu nên các biện pháp nhằm hạn chế tối đa tác hại và sự lan truyền của HIV trong cộng đồng chủ yếu là dự phòng với 3 mục tiêu chính: hạn chế tốc độ lây lan HIV, làm chậm quá trình tiến triển từ nhiễm HIV tới bệnh AIDS và làm giảm ảnh hƣởng của HIV/AIDS tới kinh tế, xã hội. Kể từ ca nhiễm HIV đƣợc phát hiện đầu tiên tại Mỹ năm 1981 cho đến nay loài ngƣời đã trải qua gần 40 năm đối phó với đại dịch có quy mô lớn, phức tạp. Tính đến hết năm 2014, theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới, tổng số ngƣời nhiễm HIV/AIDS trên thế giới còn sống là 36,9 triệu ngƣời, số ngƣời chết do HIV/AIDS khoảng 39 triệu ngƣời.
Khu vực Châu Phi chịu ảnh hƣởng nặng nề nhất từ đại dịch HIV/AIDS với 25,8 triệu ngƣời hiện đang nhiễm HIV/AIDS. Đến thời điểm hiện tại, dịch HIV trên thế giới về cơ bản đã ngăn chặn và hạn chế tỷ lệ mới mắc, tỷ lệ chết ở ngƣời nhiễm HIV/AIDS. Tại Khu vực Châu Á – Thái Bình Dƣơng, năm 2013 có 4,8 triệu ngƣời nhiễm HIV/AIDS (chiếm 2% số ngƣời trƣởng thành); số ngƣời nhiễm mới là 350.000 ngƣời chết liên quan đến HIV/AIDS và khoảng 33% ngƣời trƣởng thành nhiễm HIV đƣợc điều trị ARV[65-67]. Thái Lan là nƣớc duy nhất trong khu vực có tỷ lệ hiện nhiễm gần 1%, trƣớc đó tỷ lệ nhiễm HIV ở ngƣời trƣởng thành của nƣớc này là 1,3% trong năm 2009.
Tại Campuchia, tỷ lệ hiện nhiễm ở ngƣời trƣởng thành giảm xuống còn 0,5% trong năm 2009. Tuy nhiên tỷ lệ hiện nhiễm HIV lại đang gia tăng ở những quốc gia vốn có tỷ lệ hiện nhiễm thấp nhƣ Bangladesh, Pakistan (nơi tiêm chích ma túy là hình thái lây truyền HIV chính). Hình thái lây truyền HIV tại Châu Á chủ yếu vẫn tập trung ở nhóm ngƣời tiêm chích ma túy, ngƣời bán dâm, khách làng chơi và nam quan hệ tình dục đồng giới[19, 64]. 5 Tại Việt Nam, trƣờng hợp nhiễm HIV đầu tiên đƣợc phát hiện tại thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1990.
Tính đến tháng 6 năm 2015 số ngƣời nhiễm HIV/AIDS còn sống đƣợc báo cáo là 227.144 ngƣời, trong đó có 71.115 ngƣời đã chuyển sang giai đoạn AIDS, và đã có 74.442 ngƣời tử vong do HIV/AIDS. 100% số tỉnh thành phố, 98,9% số quận huyện và 80,3% số xã, phƣờng đã có ngƣời nhiễm HIV/AIDS. Một số xã, phƣờng có số ngƣời nhiễm HIV cao gấp 10 lần số ca nhiễm trung bình của toàn quốc và tập trung chủ yếu ở các vùng xa, dân tộc thiểu số. Dịch HIV ở Việt Nam tập trung chủ yếu ở ba nhóm quần thể có hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV cao là ngƣời tiêm chích ma túy, nam quan hệ tình dục đồng giới và phụ nữ bán dâm.
Theo ƣớc tính của các chuyên gia, hiện có tới khoảng 260 ngàn ngƣời nhiễm HIV đang sống trong cộng đồng. Trong 6 tháng đầu năm 2015, số ngƣời xét nghiệm phát hiện mới nhiễm HIV là 3.204 ngƣời, số ngƣời nhiễm HIV chuyển sang giai đoạn AIDS là 1.326 ngƣời, số ngƣời nhiễm HIV/AIDS tử vong 1. Trong số ngƣời nhiễm HIV/AIDS phát hiện tập trung chủ yếu ở nam giới (66%), nữ giới (34%). Tỷ lệ ngƣời nhiễm mới đƣợc phát hiện tiếp tục có xu hƣớng gia tăng trong nữ giới.
Về đƣờng lây truyền: Lây qua đƣờng tình dục là 52%, lây truyền qua đƣờng máu giảm còn 35,4%. Xu hƣớng lây truyền qua đƣờng tình dục ngày càng gia tăng liên tục từ 2007 trở lại đây[6, 10]. Tại Hải Dƣơng đến năm 2015, số ngƣời nhiễm HIV/AIDS còn sống trên địa bàn là 1.889 ngƣời và 1.527 ngƣời đã tử vong do AIDS. Trong năm 2015, số HIV mới phát hiện là 109 ngƣời, số chuyển AIDS là 133 ngƣời, tử vong do AIDS là 26 ngƣời.
Tình hình điều trị ARV trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình điều trị ARV trên thế giới Kể từ khi dịch HIV/AIDS đƣợc phát hiện đến nay nhiều hoạt động can thiệp, dự phòng, chăm sóc và điều trị cho ngƣời nhiễm HIV/AIDS đã đƣợc triển khai mạnh mẽ. Trong đó, liệu pháp điều trị bằng thuốc ARV đã đƣợc tiến hành tại hầu hết các quốc gia trên thế giới. Năm 1987, lần đầu tiên thuốc AZT (Azydothimidine) đƣợc thử nghiệm 6 thành công.
Năm 1989 đã có hƣớng dẫn điều trị AZT cho ngƣời nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS trên cơ sở số lƣợng tế bào CD4 của ngƣời bệnh. Đến năm 1996, thế giới bắt đầu sử dụng phác đồ phối hợp ít nhất ba loại thuốc (HAART) trong điều trị cho ngƣời nhiễm HIV/AIDS. Từ đó làm giảm đáng kể các trƣờng hợp tử vong do AIDS[60]. Với phƣơng cách điều trị sớm nhằm mang lại các lợi ích cho bản thân ngƣời nhiễm, có thể kéo dài cuộc sống của ngƣời nhiễm HIV/AIDS đến 40 năm, đồng thời giảm nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng và xã hội.
Khi tuân thủ điều trị, ngƣời nhiễm có tải lƣợng virút HIV trong máu giảm và khi xuống dƣới 1.000 bản sao/mm3 máu thì hầu nhƣ không còn khả năng lây nhiễm cho ngƣời khác[18]. Vì vậy, năm 2013 Tổ chức Y tế thế giới đã ban hành hƣớng dẫn về điều trị ARV theo nguyên tắc "Hợp nhất về việc sử dụng các loại thuốc kháng vi rút để điều trị và phòng chống lây nhiễm HIV" trên toàn cầu. Những hƣớng dẫn này đề nghị điều trị sớm và nâng cao ngƣỡng để bắt đầu điều trị ARV ở mức CD4 là 350 tế bào/mm3 đến 500 tế bào/mm3 nhằm kéo dài tuổi thọ và giảm khả năng lây truyền HIV cho ngƣời khác.