Luận văn một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị arv của người nhiễm hiv aids đang được điều trị tại trung tâm phòng chống hiv aids tỉnh hải dương năm 2016

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị ARV của người nhiễm HIV/AIDS tại Hải Dương năm 2016, cung cấp thông tin hữu ích cho công tác phòng chống.

Chuyên ngành

Quản Lý Bệnh Viện

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2016

121
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tuân Thủ Điều Trị ARV Tại Hải Dương Giới Thiệu

HIV/AIDS là một bệnh mãn tính, không thể chữa khỏi, gây suy giảm hệ miễn dịch và dẫn đến tử vong. Do đó, các biện pháp dự phòng, đặc biệt là điều trị bằng thuốc kháng virus (ARV), đóng vai trò then chốt. Việc tuân thủ điều trị ARV nghiêm ngặt về thời gian, liều lượng và cách dùng thuốc là vô cùng quan trọng để ức chế virus HIV, kéo dài tuổi thọ, giảm nguy cơ lây nhiễm và nâng cao chất lượng cuộc sống. Bài viết này tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị ARV của người nhiễm HIV/AIDS tại Hải Dương, dựa trên các nghiên cứu và số liệu thực tế. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tính đến hết năm 2014, toàn cầu có 36,9 triệu người nhiễm HIV/AIDS còn sống, và 14,9 triệu người đang được điều trị ARV. Tại Việt Nam, số người nhiễm HIV còn sống là 227.114 người, trong đó có 95.000 người đang được điều trị ARV.

1.1. Thực trạng nhiễm HIV AIDS tại tỉnh Hải Dương hiện nay

Tính đến năm 2015, Hải Dương ghi nhận 1.889 người nhiễm HIV/AIDS còn sống và 1.527 người tử vong do AIDS. Năm 2015, có 109 trường hợp HIV mới, 133 ca chuyển sang giai đoạn AIDS và 26 ca tử vong do AIDS. Điều này cho thấy tình hình dịch bệnh vẫn còn diễn biến phức tạp và cần được kiểm soát hiệu quả. Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Hải Dương đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc và điều trị HIV, nhưng tỷ lệ bệnh nhân tử vong hoặc bỏ điều trị ARV vẫn còn đáng lo ngại, đòi hỏi phải có những nghiên cứu sâu hơn để tìm ra giải pháp.

1.2. Vai trò của điều trị ARV trong kiểm soát dịch HIV AIDS

Liệu pháp điều trị ARV giúp ức chế sự phát triển và nhân lên của virus HIV, giảm nguy cơ chuyển sang AIDS, giảm mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội và giảm nguy cơ tử vong. Điều trị ARV còn giúp giảm nguy cơ lây truyền HIV sang người khác, cải thiện chất lượng cuộc sống của người nhiễm HIV/AIDS, giúp họ tự tin hòa nhập cộng đồng. Tuân thủ điều trị là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả của điều trị ARV. Nếu không tuân thủ, virus có thể kháng thuốc, dẫn đến thất bại điều trị và làm tăng nguy cơ lây nhiễm.

II. Thách Thức Tuân Thủ ARV Vấn Đề Nghiêm Trọng Tại Hải Dương

Mặc dù điều trị ARV mang lại nhiều lợi ích, nhưng tuân thủ điều trị vẫn là một thách thức lớn. Việc dùng thuốc đều đặn, đủ liều và đúng giờ đòi hỏi sự kiên trì và ý thức cao từ phía bệnh nhân. Nếu không tuân thủ, nồng độ thuốc trong máu sẽ không đủ để ức chế virus, tạo điều kiện cho virus đột biến và kháng thuốc. Điều này dẫn đến thất bại điều trị ARV, làm tăng nguy cơ mắc bệnh, tử vong và lây nhiễm cho cộng đồng. Theo nghiên cứu của Đinh Thị Thúy Vân tại Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Hải Dương năm 2014, tỷ lệ bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS tử vong trong quá trình điều trị ARV là 15,36%, tỷ lệ bỏ điều trị ARV là 17,46%.

2.1. Hậu quả của việc không tuân thủ điều trị ARV đối với cá nhân

Việc không tuân thủ điều trị ARV dẫn đến tăng tải lượng virus trong máu, suy giảm hệ miễn dịch, tăng nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội (như lao, viêm phổi, nấm), và cuối cùng là tử vong. Bên cạnh đó, việc kháng thuốc ARV khiến cho các phác đồ điều trị trở nên kém hiệu quả, đòi hỏi phải sử dụng các loại thuốc đắt tiền hơn và có nhiều tác dụng phụ hơn. Ngoài ra, việc không tuân thủ có thể gây ra những vấn đề tâm lý như mặc cảm, tự ti, lo lắng và trầm cảm.

2.2. Ảnh hưởng của việc không tuân thủ ARV đến sức khỏe cộng đồng

Việc không tuân thủ điều trị làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV cho cộng đồng, đặc biệt là qua đường tình dục và đường máu. Người nhiễm HIV không tuân thủ điều trị ARV có tải lượng virus cao hơn, do đó khả năng lây nhiễm cho người khác cũng cao hơn. Điều này gây khó khăn cho công tác phòng chống HIV/AIDS và làm chậm tiến trình kiểm soát dịch bệnh. Thêm vào đó, việc điều trị cho những bệnh nhân kháng thuốc ARV tốn kém hơn rất nhiều, gây áp lực lên hệ thống y tế.

III. Yếu Tố Cá Nhân Ảnh Hưởng Lớn Đến Tuân Thủ ARV Tại Hải Dương

Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị ARV của người nhiễm HIV. Các yếu tố này có thể được chia thành các nhóm chính: yếu tố cá nhân, yếu tố liên quan đến thuốc và điều trị, yếu tố xã hội và kinh tế, và yếu tố liên quan đến dịch vụ y tế. Các yếu tố cá nhân như độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, tình trạng tâm lý, thói quen sử dụng chất kích thích và kiến thức về HIV/AIDS đều có thể tác động đến khả năng tuân thủ điều trị của bệnh nhân. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng phụ nữ thường tuân thủ điều trị ARV tốt hơn nam giới.

3.1. Tác động của kiến thức về HIV AIDS đến hành vi tuân thủ

Kiến thức về HIV/AIDS có vai trò quan trọng trong việc định hình thái độ và hành vi của người nhiễm HIV. Người có kiến thức đầy đủ về bệnh, về lợi ích của điều trị ARV, và về hậu quả của việc không tuân thủ thường có động lực cao hơn để tuân thủ điều trị. Ngược lại, người thiếu kiến thức hoặc có những quan niệm sai lầm về HIV/AIDS có thể không nhận thức được tầm quan trọng của việc tuân thủ điều trị.

3.2. Vai trò của yếu tố tâm lý và sức khỏe tinh thần

Các vấn đề tâm lý như trầm cảm, lo âu, căng thẳng và mặc cảm có thể ảnh hưởng tiêu cực đến tuân thủ điều trị ARV. Người nhiễm HIV gặp phải những vấn đề này thường cảm thấy khó khăn trong việc tuân thủ lịch uống thuốc, duy trì lối sống lành mạnh và tham gia các buổi tư vấn. Hỗ trợ tâm lý là một phần quan trọng trong việc giúp người nhiễm HIV vượt qua những khó khăn tâm lý và cải thiện tuân thủ điều trị.

IV. Yếu Tố Kinh Tế Xã Hội Bí Quyết Tăng Tuân Thủ ARV Tại Hải Dương

Tình trạng kinh tế xã hội đóng vai trò quan trọng. Chi phí điều trị, bao gồm chi phí đi lại, chi phí khám bệnh và chi phí thuốc men, có thể là gánh nặng lớn đối với những người nhiễm HIV có thu nhập thấp. Kỳ thị và phân biệt đối xử từ gia đình, bạn bè và cộng đồng cũng có thể khiến bệnh nhân cảm thấy cô lập, xấu hổ và không muốn tiết lộ tình trạng bệnh của mình, ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và tuân thủ điều trị ARV. Theo nghiên cứu, người có bảo hiểm y tế (BHYT) thường tuân thủ điều trị ARV tốt hơn so với người không có BHYT.

4.1. Tác động của tình trạng kinh tế đến khả năng tiếp cận điều trị

Tình trạng kinh tế khó khăn có thể hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người nhiễm HIV. Chi phí đi lại, chi phí khám bệnhchi phí thuốc men có thể là rào cản lớn đối với những người có thu nhập thấp. Bên cạnh đó, việc mất thu nhập do bệnh tật hoặc do phải nghỉ làm để đi khám bệnh cũng có thể gây khó khăn cho bệnh nhân và gia đình.

4.2. Ảnh hưởng của kỳ thị và phân biệt đối xử đến tuân thủ

Kỳ thị và phân biệt đối xử là một trong những rào cản lớn nhất đối với công tác phòng chống HIV/AIDS. Người nhiễm HIV thường phải đối mặt với sự kỳ thị từ gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và cộng đồng, dẫn đến cảm giác cô lập, xấu hổ và sợ hãi. Điều này có thể khiến bệnh nhân không muốn tiết lộ tình trạng bệnh của mình, không muốn tham gia các chương trình tư vấn và điều trị, và không tuân thủ điều trị ARV.

V. Dịch Vụ Y Tế Cải Thiện Để Tăng Tuân Thủ Điều Trị ARV Tại Hải Dương

Chất lượng dịch vụ y tế đóng vai trò quan trọng. Sự hài lòng của bệnh nhân về thái độ phục vụ của nhân viên y tế, sự dễ dàng tiếp cận dịch vụ y tế, và sự hỗ trợ từ mạng lưới hỗ trợ (như các nhóm tự lực, các tổ chức phi chính phủ) đều có thể tác động tích cực đến tuân thủ điều trị ARV. Theo nghiên cứu, người tham gia đầy đủ các buổi tập huấn về tuân thủ điều trị thường có tỷ lệ tuân thủ điều trị cao hơn.

5.1. Vai trò của nhân viên y tế trong hỗ trợ tuân thủ điều trị

Nhân viên y tế đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin, tư vấn, và hỗ trợ tâm lý cho người nhiễm HIV. Nhân viên y tế cần có kiến thức chuyên môn sâu rộng, kỹ năng giao tiếp tốt, và thái độ thân thiện, tôn trọng bệnh nhân. Việc xây dựng mối quan hệ tin cậy giữa nhân viên y tế và bệnh nhân là yếu tố then chốt để cải thiện tuân thủ điều trị.

5.2. Tầm quan trọng của mạng lưới hỗ trợ cộng đồng

Mạng lưới hỗ trợ cộng đồng, bao gồm các nhóm tự lực, các tổ chức phi chính phủ, và các tình nguyện viên, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp hỗ trợ về mặt tâm lý, xã hội, và vật chất cho người nhiễm HIV. Các mạng lưới hỗ trợ giúp bệnh nhân cảm thấy được chia sẻ, được đồng cảm, và được động viên để tuân thủ điều trị.

VI. Kết Luận Giải Pháp Nâng Cao Tuân Thủ ARV Tại Hải Dương

Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị ARV của người nhiễm HIV/AIDS tại Hải Dương cho thấy rằng có nhiều yếu tố tác động đến hành vi tuân thủ điều trị, bao gồm cả yếu tố cá nhân, yếu tố kinh tế xã hội và yếu tố liên quan đến dịch vụ y tế. Việc cải thiện tuân thủ điều trị ARV đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa các ban ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội và cộng đồng. Cần tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khỏe, nâng cao nhận thức của cộng đồng về HIV/AIDS, giảm kỳ thị và phân biệt đối xử, tạo điều kiện cho người nhiễm HIV tiếp cận các dịch vụ y tếmạng lưới hỗ trợ một cách dễ dàng. Đồng thời, cần có những chính sách hỗ trợ về mặt tài chính và tâm lý cho người nhiễm HIV để giúp họ vượt qua những khó khăn trong cuộc sống và tuân thủ điều trị tốt hơn.

6.1. Đề xuất các giải pháp can thiệp cụ thể

Các giải pháp cụ thể bao gồm: Tăng cường tư vấn điều trị ARV; Đẩy mạnh truyền thông tại các khu công nghiệp; Cung cấp địa chỉ nhà tuyển dụng cho người nhiễm HIV; Vận động người nhiễm sử dụng thẻ BHYT; Xây dựng các mô hình hỗ trợ phù hợp với từng nhóm đối tượng.

6.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo để cải thiện tuân thủ ARV

Nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào: Đánh giá hiệu quả của các giải pháp can thiệp; Tìm hiểu sâu hơn về những rào cản trong tuân thủ điều trị; Phát triển các công cụ theo dõi và đánh giá tuân thủ điều trị hiệu quả hơn; Xây dựng các chương trình hỗ trợ tâm lý chuyên biệt cho người nhiễm HIV.

23/05/2025
Luận văn một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị arv của người nhiễm hiv aids đang được điều trị tại trung tâm phòng chống hiv aids tỉnh hải dương năm 2016

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới tính đến hết năm 2014 số ngƣời nhiễm HIV/AIDS trên toàn cầu còn sống là 36,9 triệu ngƣời, số ngƣời chết do HIV/AIDS khoảng 39 triệu ngƣời, trong đó 14,9 triệu ngƣời sống chung với HIV đƣợc điều trị bằng thuốc kháng vi rút (ARV)[67]. Tại Việt Nam tổng số ngƣời nhiễm HIV đang còn sống là 227.114 ngƣời, số bệnh nhân AIDS là 71.115 ngƣời và số tử vong là 74. Liệu pháp điều trị cho ngƣời nhiễm HIV/AIDS bằng thuốc ARV đƣợc triển khai tại nƣớc ta từ năm 2005, đến nay cả nƣớc có 312 phòng khám ngoại trú và 526 điểm cấp phát thuốc ARV tại xã/phƣờng, số ngƣời nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ARV là 95. Số ngƣời nhiễm HIV/AIDS còn sống đƣợc tìm thấy trên địa bàn Hải Dƣơng là 1.

Từ năm 2006, tỉnh đã bắt đầu triển khai chƣơng trình điều trị ARV, hiện đang điều trị cho 1.273 bệnh nhân tại các cơ sở y tế[37]. Quá trình điều trị bằng thuốc ARV rất phức tạp, việc lựa chọn thuốc điều trị cũng đƣợc xem xét tùy từng bệnh nhân. Về nguyên tắc phải kết hợp 3 loại thuốc hoặc nhiều hơn ba loại thuốc kháng retrovirus cùng một lúc, mỗi loại tác động ở những cơ chế khác nhau lên chu trình sao chép của HIV. Sự kết hợp này cũng làm giảm nguy cơ kháng thuốc.

Từ 2008 đã ra đời dạng thuốc viên kết hợp ba trong một, thuận tiện hơn cho việc điều trị. Tác dụng của thuốc ARV làm ức chế sự phát triển và nhân lên của vi rút nên khi ngƣời nhiễm HIV đƣợc điều trị sẽ giảm nguy cơ chuyển sang AIDS, giảm mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội và giảm nguy cơ tử vong. Điều trị bằng thuốc ARV còn làm giảm nguy lây truyền HIV sang ngƣời khác; giúp cải thiện chất lƣợng cuộc sống của ngƣời nhiễm HIV/AIDS và giúp họ tự tin hòa nhập với cộng đồng[3, 5, 7]. Do HIV có tỷ lệ nhân lên và đột biến rất cao, nếu không tuân thủ điều trị (nghĩa là thuốc không đƣợc dùng đều đặn, đủ liều và đúng giờ) sẽ dẫn đến việc nồng độ thuốc trong máu thấp, xuất hiện các đột biến của HIV kháng thuốc.

Khi có hiện tƣợng kháng một loại thuốc trong nhóm xảy ra thì thông thƣờng sẽ dẫn đến việc kháng tất cả thuốc của nhóm đó. Vì thế, việc không tuân thủ một phác đồ điều trị có thể dẫn đến hiện tƣợng 2 HIV kháng lại với nhiều loại thuốc kháng virut do đó trong quá trình điều trị ngƣời nhiễm HIV cần tuyệt đối tuân thủ điều trị. Ngƣời bệnh nên đi khám, theo dõi sức khỏe đều đặn tại cơ sở y tế và xây dựng thời gian biểu dùng thuốc hợp lý, đúng cách[27]. Mặc dù không có tiêu chuẩn vàng để đánh giá sự tuân thủ điều trị, tuy nhiên có nhiều nghiên cứu đã đƣợc tiến hành để đánh giá về tỷ lệ TTĐT ARV ở ngƣời nhiễm HIV/AIDS.

Anuradha và cộng sự (2013) nghiên cứu trên 250 bệnh nhân đang điều trị miễn phí ARV tại Ấn Độ có 96,8% bệnh nhân TTĐT[49]. Nghiên cứu của Emma Rosamond Nony Weaver và cộng sự (2012) tại Indonesia cho thấy có 77% bệnh nhân TTĐT trong 3 tháng qua[48]. Nghiên cứu của Văn Đình Hòa và cộng sự (2013) cho kết quả 64,6% bệnh nhân TTĐT ARV[17]. Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hƣởng đến việc TTĐT có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm ra các biện pháp thích hợp để cải thiện tình trạng không TTĐT.

Một số yếu tố ảnh hƣởng tiêu cực đến TTĐT nhƣ yếu tố cá nhân, độ tuổi, thời gian tham gia điều trị ARV, sử dụng bia rƣợu… đã đƣợc biết đến qua các nghiên cứu của Golin C.E, Nguyễn Thị Thu Trang[36, 51]. Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Hải Dƣơng là đơn vị y tế đi đầu trong lĩnh vực chăm sóc và điều trị cho ngƣời nhiễm HIV/AIDS của tỉnh. Theo nghiên cứu của Đinh Thị Thúy Vân tại Trung tâm năm 2014, tỷ lệ bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS tử vong trong quá trình điều trị ARV là 15,36%, tỷ lệ bỏ điều trị ARV là 17,46%[45]. Để hạn chế những tác động tiêu cực xảy ra trong quá trình điều trị ARV cũng nhƣ đƣa ra một số khuyến nghị nhằm tăng cƣờng hiệu quả, chất lƣợng điều trị ARV tại Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Hải Dƣơng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ARV của người nhiễm HIV/AIDS đang được điều trị tại Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Hải Dương năm 2016”.

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả kiến thức và thực hành tuân thủ điều trị ở ngƣời nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ARV tại Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Hải Dƣơng năm 2016. Xác định một số yếu tố liên quan đến thực hành tuân thủ điều trị ở ngƣời nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ARV tại Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Hải Dƣơng năm 2016. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

Tình hình nhiễm HIV/AIDS HIV/AIDS là tình trạng bệnh mãn tính không thể chữa khỏi, hệ thống miễn dịch của ngƣời nhiễm HIV/AIDS sẽ bị suy yếu dần dẫn đến tình trạng tử vong do mắc các bệnh NTCH. Hiện nay do chƣa có thuốc điều trị khỏi và chƣa có vắc xin phòng bệnh đặc hiệu nên các biện pháp nhằm hạn chế tối đa tác hại và sự lan truyền của HIV trong cộng đồng chủ yếu là dự phòng với 3 mục tiêu chính: hạn chế tốc độ lây lan HIV, làm chậm quá trình tiến triển từ nhiễm HIV tới bệnh AIDS và làm giảm ảnh hƣởng của HIV/AIDS tới kinh tế, xã hội. Kể từ ca nhiễm HIV đƣợc phát hiện đầu tiên tại Mỹ năm 1981 cho đến nay loài ngƣời đã trải qua gần 40 năm đối phó với đại dịch có quy mô lớn, phức tạp. Tính đến hết năm 2014, theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới, tổng số ngƣời nhiễm HIV/AIDS trên thế giới còn sống là 36,9 triệu ngƣời, số ngƣời chết do HIV/AIDS khoảng 39 triệu ngƣời.

Khu vực Châu Phi chịu ảnh hƣởng nặng nề nhất từ đại dịch HIV/AIDS với 25,8 triệu ngƣời hiện đang nhiễm HIV/AIDS. Đến thời điểm hiện tại, dịch HIV trên thế giới về cơ bản đã ngăn chặn và hạn chế tỷ lệ mới mắc, tỷ lệ chết ở ngƣời nhiễm HIV/AIDS. Tại Khu vực Châu Á – Thái Bình Dƣơng, năm 2013 có 4,8 triệu ngƣời nhiễm HIV/AIDS (chiếm 2% số ngƣời trƣởng thành); số ngƣời nhiễm mới là 350.000 ngƣời chết liên quan đến HIV/AIDS và khoảng 33% ngƣời trƣởng thành nhiễm HIV đƣợc điều trị ARV[65-67]. Thái Lan là nƣớc duy nhất trong khu vực có tỷ lệ hiện nhiễm gần 1%, trƣớc đó tỷ lệ nhiễm HIV ở ngƣời trƣởng thành của nƣớc này là 1,3% trong năm 2009.

Tại Campuchia, tỷ lệ hiện nhiễm ở ngƣời trƣởng thành giảm xuống còn 0,5% trong năm 2009. Tuy nhiên tỷ lệ hiện nhiễm HIV lại đang gia tăng ở những quốc gia vốn có tỷ lệ hiện nhiễm thấp nhƣ Bangladesh, Pakistan (nơi tiêm chích ma túy là hình thái lây truyền HIV chính). Hình thái lây truyền HIV tại Châu Á chủ yếu vẫn tập trung ở nhóm ngƣời tiêm chích ma túy, ngƣời bán dâm, khách làng chơi và nam quan hệ tình dục đồng giới[19, 64]. 5 Tại Việt Nam, trƣờng hợp nhiễm HIV đầu tiên đƣợc phát hiện tại thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1990.

Tính đến tháng 6 năm 2015 số ngƣời nhiễm HIV/AIDS còn sống đƣợc báo cáo là 227.144 ngƣời, trong đó có 71.115 ngƣời đã chuyển sang giai đoạn AIDS, và đã có 74.442 ngƣời tử vong do HIV/AIDS. 100% số tỉnh thành phố, 98,9% số quận huyện và 80,3% số xã, phƣờng đã có ngƣời nhiễm HIV/AIDS. Một số xã, phƣờng có số ngƣời nhiễm HIV cao gấp 10 lần số ca nhiễm trung bình của toàn quốc và tập trung chủ yếu ở các vùng xa, dân tộc thiểu số. Dịch HIV ở Việt Nam tập trung chủ yếu ở ba nhóm quần thể có hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV cao là ngƣời tiêm chích ma túy, nam quan hệ tình dục đồng giới và phụ nữ bán dâm.

Theo ƣớc tính của các chuyên gia, hiện có tới khoảng 260 ngàn ngƣời nhiễm HIV đang sống trong cộng đồng. Trong 6 tháng đầu năm 2015, số ngƣời xét nghiệm phát hiện mới nhiễm HIV là 3.204 ngƣời, số ngƣời nhiễm HIV chuyển sang giai đoạn AIDS là 1.326 ngƣời, số ngƣời nhiễm HIV/AIDS tử vong 1. Trong số ngƣời nhiễm HIV/AIDS phát hiện tập trung chủ yếu ở nam giới (66%), nữ giới (34%). Tỷ lệ ngƣời nhiễm mới đƣợc phát hiện tiếp tục có xu hƣớng gia tăng trong nữ giới.

Về đƣờng lây truyền: Lây qua đƣờng tình dục là 52%, lây truyền qua đƣờng máu giảm còn 35,4%. Xu hƣớng lây truyền qua đƣờng tình dục ngày càng gia tăng liên tục từ 2007 trở lại đây[6, 10]. Tại Hải Dƣơng đến năm 2015, số ngƣời nhiễm HIV/AIDS còn sống trên địa bàn là 1.889 ngƣời và 1.527 ngƣời đã tử vong do AIDS. Trong năm 2015, số HIV mới phát hiện là 109 ngƣời, số chuyển AIDS là 133 ngƣời, tử vong do AIDS là 26 ngƣời.

Tình hình điều trị ARV trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình điều trị ARV trên thế giới Kể từ khi dịch HIV/AIDS đƣợc phát hiện đến nay nhiều hoạt động can thiệp, dự phòng, chăm sóc và điều trị cho ngƣời nhiễm HIV/AIDS đã đƣợc triển khai mạnh mẽ. Trong đó, liệu pháp điều trị bằng thuốc ARV đã đƣợc tiến hành tại hầu hết các quốc gia trên thế giới. Năm 1987, lần đầu tiên thuốc AZT (Azydothimidine) đƣợc thử nghiệm 6 thành công.

Năm 1989 đã có hƣớng dẫn điều trị AZT cho ngƣời nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS trên cơ sở số lƣợng tế bào CD4 của ngƣời bệnh. Đến năm 1996, thế giới bắt đầu sử dụng phác đồ phối hợp ít nhất ba loại thuốc (HAART) trong điều trị cho ngƣời nhiễm HIV/AIDS. Từ đó làm giảm đáng kể các trƣờng hợp tử vong do AIDS[60]. Với phƣơng cách điều trị sớm nhằm mang lại các lợi ích cho bản thân ngƣời nhiễm, có thể kéo dài cuộc sống của ngƣời nhiễm HIV/AIDS đến 40 năm, đồng thời giảm nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng và xã hội.

Khi tuân thủ điều trị, ngƣời nhiễm có tải lƣợng virút HIV trong máu giảm và khi xuống dƣới 1.000 bản sao/mm3 máu thì hầu nhƣ không còn khả năng lây nhiễm cho ngƣời khác[18]. Vì vậy, năm 2013 Tổ chức Y tế thế giới đã ban hành hƣớng dẫn về điều trị ARV theo nguyên tắc "Hợp nhất về việc sử dụng các loại thuốc kháng vi rút để điều trị và phòng chống lây nhiễm HIV" trên toàn cầu. Những hƣớng dẫn này đề nghị điều trị sớm và nâng cao ngƣỡng để bắt đầu điều trị ARV ở mức CD4 là 350 tế bào/mm3 đến 500 tế bào/mm3 nhằm kéo dài tuổi thọ và giảm khả năng lây truyền HIV cho ngƣời khác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Tuân Thủ Điều Trị ARV Của Người Nhiễm HIV/AIDS Tại Hải Dương" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố tác động đến việc tuân thủ điều trị ARV của người nhiễm HIV/AIDS tại khu vực Hải Dương. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các yếu tố cá nhân, xã hội và môi trường mà còn chỉ ra những rào cản mà bệnh nhân phải đối mặt trong quá trình điều trị. Qua đó, tài liệu giúp nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc tuân thủ điều trị, từ đó cải thiện sức khỏe cộng đồng và giảm thiểu sự lây lan của virus HIV.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến y tế và sức khỏe tại Hải Dương, bạn có thể tham khảo tài liệu "Luận văn thạc sĩ tăng cường tự chủ tài chính tại trung tâm y tế huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương", nơi đề cập đến các giải pháp tài chính trong lĩnh vực y tế. Ngoài ra, tài liệu "Luận văn tai nạn thương tích không tử vong và những ảnh hưởng sức khoẻ kinh tế tại thành phố Chí Linh tỉnh Hải Dương năm 2020" cũng sẽ cung cấp cái nhìn về tác động của tai nạn đến sức khỏe và kinh tế, từ đó giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Những tài liệu này sẽ là nguồn thông tin quý giá cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về các vấn đề y tế tại Hải Dương.