CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các định nghĩa, khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 1. Tai nạn thương tích Tai nạn: Là sự kiện xảy ra bất chợt, thường nằm ngoài ý muốn (ngẫu nhiên, không chủ ý) do một tác nhân bên ngoài tác động vào. Kết quả của tai nạn thường gây nên các tổn thương, thương tích trên cơ thể về thể chất, tinh thần hoặc cả hai (5).
Thương tích: Là những tổn thương thực tế trên cơ thể người do tác động của các loại năng lượng (Cơ học, nhiệt học, điện học, hóa học, phóng xạ…) với mức độ và tốc độ khác nhau. Tác động này vượt quá sức chịu đựng của cơ thể gây ra các loại hình vết thương. Ngoài ra, thương tích còn là sự thiếu hụt các yếu tố cần thiết cho sự sống gây ảnh hưởng đến thể chất và tinh thần của nạn nhân (4, 20, 21). “Tai nạn” được hiểu như một sự cố bất chợt, khó phòng tránh.
Trong khi đó, “Thương tích” có thể lý giải được và có thể chủ động phòng tránh được. Tuy nhiên, chúng ta khó có thể phân định rõ ràng giữa hai khái niệm “Tai nạn” và “Thương tích”. Do vậy hiện nay, trong các văn bản, tài liệu của Việt Nam, người ta thường sử dụng khái niệm “Tai nạn thương tích” như một sự kiện xảy ra bất ngờ ngoài ý muốn. Vấn đề này sẽ bao quát toàn bộ phạm vi nguyên nhân gây nên các tổn thương, thương tích cho cơ thể về thể chất hay tâm lý của nạn nhân với nhiều tác nhân khác nhau được sử dụng trong đề tài luận văn này.
Tai nạn thương tích (TNTT) thường để lại hậu quả gây chết người hoặc gây thương tổn cần đến sự chăm sóc y tế (CSYT), hoặc phải nghỉ học, nghỉ lao động, hạn chế vận động và sinh hoạt bình thường tối thiểu 01 ngày. Các loại hình tai nạn thương tích Tai nạn thương tích không chủ ý: Là những dạng chấn thương gây nên do sự vô ý hay không có sự chú ý của người bị TNTT hoặc của những người khác có liên quan. Các trường hợp thường không có nguyên nhân rõ ràng, khó có thể đoán trước như ngã, bỏng, ngộ độc, chết đuối, nghẹt thở…Trong đó, tai nạn giao thông (TNGT) là trường hợp gây chấn thương phổ biến nhất không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới, theo sau đó là ngã và đuối nước (22). 5 Tai nạn thương tích có chủ ý: Là những TNTT gây nên do chủ ý của người bị tai nạn hoặc của những người khác có liên quan.
Các trường hợp thường gặp bao gồm: Tự tử, bạo lực học đường, bạo hành gia đình, chiến tranh, hiếp dâm, hành hạ trẻ em, người già…Tự tử là nguyên nhân thường gặp nhất ở nhóm này. TNTT có chủ ý thường có nguyên nhân rõ ràng và có thể chủ động phòng tránh được (22). Ngoài ra, có một nhóm nhỏ các trường hợp bị TNTT khó xác định là có chủ ý hay không chủ ý hoặc là sự kết hợp của cả hai. Một số tai nạn thương tích phổ biến Tai nạn giao thông: Là tai nạn xảy ra do có sự va chạm giữa các đối tượng tham gia giao thông đang hoạt động trên đường giao thông công cộng, đường chuyên dụng….TNGT phải có ít nhất một phương tiện đang tham gia giao thông liên quan, bao gồm va chạm giữa xe với xe, xe với người, xe với động vật, xe với những vật cố định trên đường và các trường hợp tự ngã khi đang lái xe.
Đây là loại hình TNTT phổ biến nhất tại Việt Nam cũng như trên thế giới (22, 23). Tai nạn thương tích trong lao động: Còn được gọi là tai nạn lao động (TNLĐ). Là TNTT xảy ra đối với những người lao động khi đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc đang trong quá tình lao động, thực hiện các hoạt động công việc, nhu cầu sinh hoạt cần thiết cho đời sống mà luật lao động cho phép. Đuối nước, chết đuối: Là tình trạng đường thở bị ngập hoàn toàn trong môi trường nước gây nên tình trạng khó thở do tắc nghẽn đường hô hấp.
Nếu nạn nhân được người khác cứu sống hoặc tự thoát ra được khỏi tình trạng nguy hiểm gọi là đuối nước. Nếu nạn nhân tử vong gọi là chết đuối (22-24). Ngã: Là sự kiện khiến con người phải dừng lại một cách đột ngột trên mặt đất, sàn nhà hoặc một mặt bằng thấp hơn, xảy ra một lực va đập mạnh. Bao gồm trường hợp bị ngã từ trên cao xuống hoặc ngã trên cùng một mặt phẳng (22, 23).
Ngộ độc: Là trường hợp hít phải, ăn uống, tiêm truyền vào cơ thể các loại độc tố dẫn đến cần sự hỗ trợ từ y tế hoặc tử vong. Ngộ độc được chia thành ngộ độc cấp tính (tiếp xúc với chất độc liều cao một lần và trong thời gian ngắn với những triệu chứng xuất hiện nhanh ngay sau khi phơi nhiễm) và ngộ độc mạn tính (tiếp xúc với chất động nhiều lần với liều lượng ngắn, thời gian kéo dài) (22, 23). 6 Bỏng: Là tổn thương do tác động trực tiếp của các yếu tố vật lý (Nhiệt, bức xạ, điện…) và hóa học gây ra tổn thương trên cơ thể: Một hoặc nhiều lớp tế bào của da khi tiếp xúc với chất lỏng nóng, rắn nóng, lửa, điện, tia cực tím, phóng xạ, hóa học, khói do cháy xộc vào phổi. Da là bộ phận bị tổn thương đầu tiên, tiếp đến là các lớp dưới da (cân, cơ, mạch máu, thần kinh, xương) và một số cơ quan khác (hô hấp, tiêu hóa…) (22, 23).
Động vật cắn, côn trùng đốt: Do động vật côn trường tấn công vào cơ thể người theo nhiều hình thức khác nhau như: Cắn, đốt, húc, đâm phải…gây ra các vết thương tích khác nhau (22, 23). Vật sắc nhọn – Vật tù: Là trường hợp bị cắt, đâm, rách do tác động trực tiếp của những vật nhọn như: Mảnh thủy tinh, dao kéo. Dụng cụ gây thương tích có thể là kết quả của TNLĐ, dụng cụ lao động hoặc tổn thương do tác động của vật tù, vật nặng đè lên cơ thể như cành cây rơi, sập nhà, sập giàn giáo, sập cầu, sóng thần động đất làm chôn vùi và sạt lở (22, 23). Điện giật: Là trường hợp bị điện giật khi tiếp xúc với nguồn điện trực tiếp hoặc gián tiếp gây tổn thương trên cơ thể hoặc tử vong (22).
Tự tử: Là trường hợp có chủ ý, cố ý sử dụng các biện pháp gây độc hoặc gây tổn thương cho cơ thể mình. Mục đích thực hiện hành động do muốn kết thúc mạng sống bởi nhiều lý do khác nhau (22, 23). Bạo lực, bạo hành: Bao gồm các hành động tự bạo hành bản thân (cắt tay, cào cấu, giật tóc…), bạo lực giữa các cá nhân (bạo hành gia đình, bạo lực học đường) hoặc bạo lực giữa các nhóm cá nhân, bạo lực tập thể, tổ chức, tranh chấp giữa các nhóm tôn giáo, khủng bố vật chất và tinh thần. Bạo lực, bạo hành thường gây những tổn hại nghiêm trọng về sức khỏe thể chất và tinh thần cho cả nhóm đối tượng đi bạo hành và nhóm đối tượng bị bạo hành (4, 23).
Một số định nghĩa, khái niệm, thuật ngữ khác Sức khỏe: WHO định nghĩa “Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về cả thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không phải chỉ là không có bệnh tật hay tàn phế”. Hội nghị Quốc Tế về Chăm sóc Sức khỏe lần thứ 5 (2000) xác nhận “Sức khỏe là yếu tố quan trọng nhất để đẩy mạnh sản xuất, xây dựng kinh tế, xóa đói giảm nghèo. 7 Chăm sóc sức khỏe tốt là hình thức gián tiếp xây dựng cuộc sống hạnh phúc ấm no cho con người” (25, 26). Sức khỏe vừa là biểu hiện vừa là một thành phần của sự phát triển con người.
Sự phát triển sức khỏe được nhìn nhận theo cách sinh thái như là 'mô hình kết nối'. Bao gồm 3 yếu tố chính: Sức khỏe có mối liên hệ trực tiếp với các khía cạnh xã hội, môi trường và kinh tế (27). Các ảnh hưởng xấu đến sức khỏe có thể bao gồm: Mất/ giảm chức năng bộ phận cơ thể, mất/ giảm khả năng thực hiện các hoạt động, nhận thức mà trước đây có thể thực hiện được. Các ảnh hưởng sức khỏe có thể xuất hiện tạm thời hoặc vĩnh viễn, tức thời hoặc ảnh hưởng trong một thời gian dài.
Hậu quả xấu nhất có thể dẫn đến tàn tật, tử vong. Kinh tế: Là một khái niệm rộng, hoạt động trong một lĩnh vực sản xuất, phân phối, thương mại cũng như tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ. Trong kinh tế y tế, sức khỏe là một loại hàng hóa đặc biệt. Các vấn đề sức khỏe gây ra gánh nặng bệnh tật, tử vong là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến gánh nặng kinh tế.
TNTT dẫn đến các chi phí điều trị trực tiếp, gián tiếp và các chi chí chăm sóc sức khỏe (28, 29). Bảo hiểm: Là một hoạt động mà thông qua đó, một cá nhân có quyền được hưởng trợ cấp bảo hiểm nhờ vào một khoản đóng góp cho mình hoặc cho người thứ 3 trong trường hợp xảy ra rủi ro. Khoản trợ cấp này do một tổ chức chi trả, có thể do nhà nước hoặc tư nhân điều hành. Tổ chức này có trách nhiệm đối với toàn bộ các rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê.
Bảo hiểm y tế (BHYT): Một loại bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của các cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khỏe, khám bệnh và chữa bệnh cho người dân (30). BYHT là một loại bảo hiểm cần thiết với mọi người. Đây là công cụ bảo hiểm đảm bảo quyền lợi an sinh xã hội cơ ban, đồng thời thể hiện sự chia sẻ rủi ro của mọi người trong cộng đồng đối với vấn đề kinh tế, sức khỏe, tạo sự công bằng trong khám chữa bệnh, làm tăng chất lượng dịch vụ y tế. BHYT toàn dân là mục tiêu các quốc gia hướng tới nhằm tăng độ bao phủ BHYT tới mọi tầng lớp nhân dân.
Phục hồi chức năng: Là các biện pháp y học, xã hội, hướng nghiệp, giáo dục làm hạn chế tối đa giảm chức năng, tạo cho người khuyết tật có cơ hội tham gia các 8 hoạt động để hội nhập, tái hòa nhập xã hội, có cơ hội bình đẳng trong cộng đồng xã hội. Hiện nay, các kỹ thuật phục hồi chức năng rất đa dạng, bao gồm cả các hoạt động thể chất, tâm lý, tinh thần, được thực hiện tại cơ sở y tế, tại nhà hoặc tại cộng đồng.