Chương 1 giới thiệu lý do nhóm tác giả lựa chọn đề tài: “ Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng đồ nhựa sử dụng một lần của người dân TP. Từ đó nhóm xác định mục tiêu cho việc thực hiện nghiên cứu cũng như đưa ra các phương pháp tiến hành nghiên cứu phù hợp và ý nghĩa của việc thực hiện nghiên cứu này. Tieu luan CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Một số khái niệm cơ bản 2.1 Khái niệm người dân Người dân là thuật ngữ chỉ về toàn thể những con người sinh sống trong một quốc gia, và tương đương với khái niệm dân tộc. Nhân dân còn có khái niệm rộng hơn và được sử dụng trong chính trị, pháp lý, tư tưởng chính trị.
Trong lĩnh vực chính trị pháp lý, nhân dân còn tương đồng với thuật ngữ công dân là những con người mang quốc tịch và được bảo hộ của một nhà nước nơi họ đang sinh sống và thông thường là không bao gồm những người trong bộ máy cai trị. Người dân là một trong những đối tượng nghiên cứu chính của nhiều ngành khoa học. Là một khái niệm khoa học lâu đời, trải qua nhiều thay đổi trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại. Người dân còn có khái niệm rộng hơn và được sử dụng trong chính trị, pháp lý, tư tưởng chính trị.
Trong lĩnh vực chính trị pháp lý, người dân còn tương đồng với thuật ngữ công dân là những con người mang quốc tịch và được bảo hộ của một nhà nước nơi họ đang sinh sống và thông thường là không bao gồm những người trong bộ máy cai trị.2 Khái niệm hành vi Hành vi là hành động và cách cư xử được các cá nhân, sinh vật, hệ thống hoặc thực thể nhân tạo thực hiện kết hợp với chính họ hoặc môi trường của họ, bao gồm các hệ thống hoặc sinh vật khác xung quanh cũng như môi trường vật lý. Đó là phản ứng được tính toán của hệ thống hoặc sinh vật đối với các kích thích hoặc đầu vào khác nhau, cho dù bên trong hay bên ngoài, ý thức hay tiềm thức, công khai hoặc bí mật, và tự nguyện hoặc không tự nguyện.3 Khái niệm nhựa một lần Khái niệm nhựa một lần là những sản phẩm được làm bằng nhựa, sản xuất ra với mục đích chỉ dùng 1 lần rồi vứt bỏ. Đó có thể là cốc nhựa, thìa nhựa, nĩa nhựa, hộp xốp,… dùng 1 lần phục vụ quá trình sinh hoạt, sản xuất của con ngư Tieu luan 2.1 Phương pháp tiếp cận hành động duy lí (RAA) Thuyết hành tiếp cận hành động hợp lí (Reasoned Action Approach hoặc RAA) là một mô hình tích hợp được sử dụng để dự đoán (hoặc thay đổi) hành vi xã hội của con người được Icek Ajzen và Martin Fishbein phát triển vào từ giữa thập niên bảy mươi. Mô hình đã được sử dụng trong rất nhiều nghiên cứu về hành vi con người (Fishbein 2008; Ajzen & Albarracin 2007; Gaither, Bagozzi, Ascione, và cộng sự 1996;Ajzen 2002,.
Đây cũng là lý thuyết mới nhất để giải thích hành vi do Ajzen và Fishbein phát triển với lần hiệu chỉnh gần nhất được xuất bản vào năm 2010. Theo thuyết này, hành vi được quyết định bởi ý định và bị ảnh hưởng bởi khả năng kiểm soát thực (kĩ năng/năng lực/môi trường) của chủ thể hành vi. Khả năng kiểm soát thực còn ảnh hưởng gián tiếp đến bản thân ý định và nhận thức kiểm soát hành vi. Ngoài ra, hành vi chịu sự chi phối trực tiếp của ba nhân tố: thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan, và nhận thức kiểm soát hành vi.
Bên cạnh tác động trực tiếp, nhận thức kiểm soát hành vi còn tác động gián tiếp đến ý định. Ba thái độ với hành vi, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi lại lần lượt chịu tác động bởi niềm tin về hành vi, niềm tin về chuẩn mực, và niềm tin về khả năng kiểm soát. Ba nhân tố về niềm tin được tác động bởi những yếu tố nền (bao gồm những yếu tố cá nhân, xã hội, và thông tin). Cuối cùng, hành vi thực hiện sẽ củng cố niềm tin về hành vi và niềm tin về khả năng kiểm soát.
Cụ thể hơn, thái độ đối với hành vi (Attitude toward behaviour) là yếu tố thể hiện thái độ tích cực hay tiêu cực, đồng tình, hay phản đối của chủ thể đối với hành động. Thái độ đối với hành vi có thể được đo lường thông qua sức mạnh của niềm tin và đánh giá kết quả của chủ thể đối với một hành hành vi nhất định. Chuẩn chủ quan (Subjective Norms) là nhân tố thể hiện sự ảnh hưởng của những người liên quan đối với ý định hành vi của chủ thể. Những người có khả năng ảnh hưởng đến hành vi có thể là người thân, bạn bè, hay đồng nghiệp.
Chuẩn chủ quan là nhận thức của chủ thể về sự tán thành, khuyến khích (hoặc sự phản đối) của những người xung quanh đối với hành vi được nghiên cứu. Tieu luan Nhận thức kiểm soát hành (Perceived Control) là nhận thức của chủ thể đối về khả năng kiểm soát của bản thân đối với hành vi được nghiên cứu. Trong khi đó khả năng kiểm soát thực (Actual control) bao gồm những kĩ năng có liên quan, những rào cản, và các xúc tác đối với việc thực hiện hành vi. Phương pháp tiếp cận hành động duy lí (RAA) là phiên bản mở rộng của lý thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behaviour- TBA) nhằm bao hàm và giải thích cụ thể hơn những nhân tố tác động đến dự định và hành vi.
Phương pháp này được sử dụng trong nhiều bối cảnh nghiên cứu và nhiều hành vi khác nhau, như: hành vi liên quan đến sức khỏe, hành vi sống xanh, hành vi tổ chức,. (Ajzen và Fishbein 2010; Bartholomew, Parcel, Kok, Gottlieb, Fernansdez 2011. Tieu luan Hình 2-1 Mô hình RAA Thái độ Niềm tin đối với về hành vi hành vi các yếu tố :ccá nhân xã hội, thông tin Niềm tin Chuẩn Ý định về chuẩn chủ quan Hành vi mực Niềm tin về Nhận thức khả năng kiểm soát kiểm soát hành vi Khả năng kiểm soát thực tế Nguồn: Ajzen và Fishbein (2010) *Hạn chế của mô hình RAA: Mô hình RAA không xem xét đến các khác biệt về mặt văn hóa của các nhóm đối tượng được khảo sát. Đây là một điểm yếu rất lớn nếu như mô hình được áp dụng trong một xã hội đa văn hóa.
Tuy nhiên, trong cuốn sách Predicting and changing behavior: The Reasoned Action Approach (tạm dịch là: Dự đoán và thay đổi hành vi: Phương pháp tiếp cận hành động duy lí) của mình, Ajzen và Fishben cho rằng một nghiên cứu gợi mở với mục đích xác định những niềm tin nền tảng có liên quan sẽ khắc phực được hạn chế này.2 Lý thuyết và mô hình niềm tin sức khỏe 2.1 Mô hình niềm tin sức khỏe Mô hình niềm tin sức khỏe (Health Belief Model- HBM) là một mô hình nghiên cứu sức khỏe được phát triển bởi những nhà tâm lí học xã hội của Dịch vụ Y tế công Tieu luan cộng Hoa Kỳ vào những năm 1950. Cho tới nay, HBM vẫn là một trong những mô hình nghiên cứu sức khỏe được phát triển bởi những nhà tâm lí học xã hội của Dịch vụ Y tế công cộng Hoa Kỳ vào những năm 1950. Cho tới nay, HBM vẫn là một trong những mô hình dự doán các hành vi liên quan đến sức khỏe được sử dụng rộng rãi nhất trong việc dự đoán hành vi liên quan đến sức khỏe. Tieu luan Hình 2-2 Mô hình niềm tin sức khỏe Nhận thức về nguy cơ bị nhiễm bệnh Nhận thức về độ nghiêm trọng Hành động Các yếu tố nhân khẩu học và đặc Nhận thức về lợi điểm tâm lý ích Nhận thức về rào Gợi ý hành động cản Sự tự tin vào năng lực bản thân Nguồn: Conner, M., (2019) Mô hình niềm tin sức khỏe cho rằng niềm tin của cá nhân về những vấn đề liên quan đến sức khỏe, nhận thức về lợi ích và rảo cản, và sự tự tin vào năng lực bản thân giải thích được hành vi liên quan đến sức khỏe của cá nhân.
Ngoài ra, gợi ý hành động cần phải tồn tại để xúc tác quá trình thực hiện hành vi. Nhận thức về nguy cơ bị nhiễm bệnh là nhận thức chủ quan của chủ thể về nguy cơ bị mắc phải một vấn đề liên quan đến sức khỏe. Mô hình HBM dự đoán rằng những cá nhân cho rằng mình dễ bị mắc một vấn đề sức khỏe cụ thể sẽ chú ý thực hiện những hành vi nhằm giảm nguy cơ bị nhiễm bệnh. Những cá nhân không cho rằng mình dễ bị mắc bệnh có thể hoàn toàn từ chối chập nhận khả năng mình bị nhiễm bệnh.
Hoặc họ có thể nhận thấy rằng mình có thể bị nhiễm bệnh, nhưng cho rằng việc đó khó xảy ra. Những cá nhân thuộc nhóm số hai có xu hướng thực hiện những hành vi có hại hoặc đem lại nhiều rủi ro cho sức khỏe. Trong khi đó nhóm số một lại có xu hướng thực hiện những hành vi nhằm giảm thiểu nguy cơ bị mắc bệnh. Nhận thức về độ nghiêm trọng là nhận thức chủ quan của chủ thể về tầm nghiêm trọng của một vấn đề sức khỏe và những hậu quả mà vấn đề sức khỏe đó có thể gây ra.Nhận thức về mức độ nghiêm trọng có thể bao gồm những yếu tố liên quan trực tiếp đến bệnh (nguy cơ tử vong, gây dị tật, hay đau đớn) hay những Tieu luan ảnh hưởng của dịch bệnh đế công việc hay vai trò xã hội.
Nhận thức về lợi ích trong mô hình sức khỏe bàn về những đánh giá của cá nhân về giá trị mà việc tham gia một hoạt động tăng cường sức khỏe có thể đem lại. Nếu một người tin rằng một hoạt động cụ thể sẽ làm giảm nguy cơ bị mắc phải một căn bệnh hay làm giảm mức độ nghiêm trọng của bệnh, người đó sẽ sẵn sàng thực hiện hành động đó hơn mà không quan tâm đến hiệu quả khách quan của hành dộng đó. Ví dụ, một người tin rằng việc sử dụng kem chống nắng sẽ giúp chống ung thư da sẽ có xu hướng sử dụng kem chống nắng nhiều hơn những người tin rằng kem chống nắng không giúp phòng chống ung thư da. Nhận thức về rào cản liên quan đến những đánh giá mang tính cá nhân về những trở ngại trong việc thay đổi hành vi.
Thẩm chí khi cá nhân cho rằng một hành vi có thể giảm thiểu được nguy cơ bị nhiễm bệnh và tin rằng hành động đó là có hiệu quả, những rào cản mà cá nhân cảm nhận được vẫn có thể ngăn họ thực hiện hành vi này.