Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu. Chương này chủ yếu khái quát những nét chính về đề tài nghiên cứu như trình bày lý do lựa chọn đề tài, xác định những mục tiêu nghiên cứu cần thực hiện cùng các câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài và bố cục của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm. Chương này trình bày tổng quan về BHNT tại ngân hàng thương mại, các cơ sở lý thuyết về hành vi người tiêu dùng và các mô hình ý định.
Dựa vào cơ sở lý thuyết và những công trình nghiên cứu trước trên thế giới và Việt Nam để xây dựng và tóm tắt các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua BHNT. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Trong chương này sẽ đưa ra quy trình nghiên cứu, mô hình nghiên cứu đề xuất, các giả thuyết nghiên cứu, phương pháp thu thập dữ liệu, phương pháp phân tích dữ liệu, xây dựng thang đo và hoàn thiện bảng câu hỏi. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Dựa trên dữ liệu thu thập được sẽ tiến hành phân tích, kiểm định mô hình nghiên cứu và đưa ra kết quả cụ thể đánh giá mức độ ảnh hưởng về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm BHNT của khách hàng cá nhân tại NHTMCP Sài Gòn Thương Tín. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. Chương này sẽ trình bày kết luận, tóm tắt những kết quả chính của nghiên cứu và đưa ra những giải pháp cho từng yếu tố nghiên cứu và hướng phát triển của nghiên cứu trong tương lai. NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM 2.1 Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ tại ngân hàng thương mại 2.
Bảo hiểm nhân thọ Trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước thì các ngành, các lĩnh vực đều có những đóng góp nhất định trong việc làm giàu nước nhà. Bảo hiểm là một trong các ngành dịch vụ có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Bảo hiểm được định nghĩa là một thiết bị xã hội cung cấp sự đền bù tài chính cho những ảnh hưởng của bất hạnh, các khoản thanh toán được thực hiện từ sự đóng góp tích lũy của tất cả các bên tham gia vào chương trình (Hansell, 1999). Bảo hiểm cũng có thể gọi là một phương pháp lập quỹ dự trữ bằng tiền do những người có cùng khả năng gặp một loại rủi ro nào đó đóng góp tạo nên, hoạt động thể hiện bên phía công ty bảo hiểm cam kết bồi thường cho người tham gia bảo hiểm trong từng trường hợp rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm với điều kiện tham gia là người tham gia sẽ đóng một khoản phí cho chính mình hoặc bên thứ ba (Hồ Sĩ Sà, 2000).
Bảo hiểm là một lĩnh vực rộng và phức tạp, hàm chứa yếu tố kinh doanh, pháp lý và kỹ thuật nghiệp vụ đặc thù cho nên việc nhìn nhận bảo hiểm cũng sẽ có các góc độ và cách tiếp cận khác nhau. Cụ thể đối với phương diện kinh tế thì bảo hiểm là biện pháp chuyển giao rủi ro được thực hiện thông qua hợp đồng bảo hiểm, trong đó bên mua bảo hiểm chấp nhận trả phí bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm cam kết bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, còn ở phương diện tài chính thì bảo hiểm chính là sự vận động các nguồn tài lực trong việc huy động sự đóng góp cụ thể là phí bảo hiểm của các tổ chức kinh tế và cá nhân mua bảo hiểm để lập quỹ bảo hiểm và phân phối; sử dụng nó để bồi thường những tổn thất vật chất và chi trả cho tai nạn bất ngờ xảy ra đối với các đối tượng bảo hiểm (Cục Quản lý giám sát bảo hiểm, 2013). Như vậy, có thể hiểu rằng bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ mà người tham gia sẽ hưởng được tiền bồi thường nếu rủi ro xảy ra nhờ vào khoản phí mình đóng cho một công ty hay tổ chức bảo hiềm và khoản tiền bồi thường sẽ do họ đảm nhiệm. Mục đích trong 8 kinh tế, bảo hiểm góp phần ổn định tài chính cho người tham gia từ đó khôi phục và phát triển sản xuất, đời sống; hơn hết còn giúp hỗ trợ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, giúp thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần ổn định Ngân sách nhà nước và tạo nên nguồn vốn phát triển cho kinh tế và xã hội của đất nước.
Ở mặt xã hội, bảo hiểm giúp tránh rủi ro, hạn chế tổn thất, đảm bảo an toàn cho nền kinh tế - xã hội, có thể tạo thêm việc làm cho người lao động, tạo nên lối sống tiết kiệm và mang đến trạng thái an toàn về tinh thần cho xã hội (Cục Quản lý giám sát bảo hiểm, 2013). Theo Luật Kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (sửa đổi năm 2010), các nghiệp vụ bảo hiểm được chia thành : BHNT , bảo hiểm phi nhân thọ , bảo hiểm sức khỏe và các nghiệp ̣bảo hiểm khác. Trong đó BHNT được hiểu là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết (Luật kinh doanh bảo hiểm, 2000). Giống như định nghĩa chung về bảo hiểm thì BHNT cũng là cách chuyển giao rủi ro và tích lũy tài chính bằng cách khi chủ hợp đồng bảo hiểm đồng ý tham gia vào bảo hiểm với công ty bảo hiểm, chủ hợp đồng bảo hiểm sẽ đóng góp một số phí cho công ty bảo hiểm, đổi lại tại công ty bảo hiểm đồng ý trả một khoản tiền nếu nếu người được bảo hiểm còn sống đến một thời gian theo quy định của hợp đồng (Harriett E.
Tương tự Nguyễn Văn Định (2008) nhận định rằng đây là quá trình bảo hiểm các rủi ro liên quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ của con người. Như vậy, có thể khái quát rằng BHNT được hiểu là người tham gia đồng ý và ký hợp đồng bảo hiểm với công ty bảo hiểm và khi hết thời hạn bảo hiểm hoặc không may rủi ro xảy ra với khoản phí định kỳ mà họ hằng năm đóng vào quỹ dự phòng tài chính cho bên bảo hiểm, khách hàng sẽ được bảo vệ tài chính cho bản thân và gia đình với tiền đã thoả thuận trong hợp đồng. Thời hạn thỏa thuận trước có thể là 5 năm, 10 năm, 20 năm. Sự ra đời và phát triển của BHNT đã giúp cho mọi người tránh khỏi những bất hạnh, thiếu thốn vật chất do cái chết bất ngờ của người trụ cột gia đình hoặc giúp các gia đình đầu tư và tiết kiệm để đáp ứng các nhu cầu tài chính trong tương lai, hơn nữa BHNT còn có ích cho xã hội khi là nguồn huy động vốn để đầu tư dự án trung và dài hạn, góp phần phát triển đất nước.
Từ đó cho 9 thấy rằng BHNT có ảnh hưởng quan trọng đến cá nhân, gia đình và cả xã hội. Sản phẩm bảo hiểm tại ngân hàng thương mại Sản phẩm BHNT bán tại ngân hàng thông qua hình thức “Bancassurance”, đây là hệ thống một ngân hàng có một thỏa thuận sẽ làm đại lý cho một doanh nghiệp bảo hiểm bán các sản phẩm bảo hiểm nhằm kiếm một nguồn thu nhập ngoài lãi (Shah, 2011). Quá trình sử dụng các mối quan hệ khách hàng của ngân hàng để bán các sản phẩm BHNT, phi nhân thọ và quy trình này là con đường vô cùng hiệu quả cho sự phát triển của bảo hiểm (Gonulal, 2012). Nó cung cấp và bán các sản phẩm ngân hàng và bảo hiểm của cùng một tổ chức dưới cùng một mái nhà (Elkington W.
Mục đích của chiến lược nhằm vận hành thị trường tài chính theo cách ít nhiều mang tính tích hợp (Swiss RE, 1992). Tóm lại, bancasurance là hình thức phân phối các sản phẩm bảo hiểm trong đó có BHNT qua hệ thống ngân hàng nhằm mang đến cho khách hàng đang tham gia các dịch vụ tài chính tại ngân hàng sự bảo vệ tài chính trước rủi ro ngoài ý muốn. Dựa vào các khái niệm trên cho thấy đặc điểm cơ bản của bancassurance là: - Bancassurance là sự kết hợp giữa ngân hàng và doanh nghiệp bảo hiểm - Hình thức phân phối sản phẩm dựa cơ sở dữ liệu khách hàng của cả ngân hàng và doanh nghiệp bảo hiểm - Các sản phẩm gắn với đặc thù của hoạt động ngân hàng 2. Các hình thức liên kết sản phẩm giữa doanh nghiệp bảo hiểm và ngân hàng thương mại BHNT tại ngân hàng là một trong những sản phẩm của ngân hàng liên kết bảo hiểm (Bancassurance).
Theo đó việc ngân hàng cung cấp và phân phối sản phẩm bảo hiểm nói chung cũng như BHNT nói riêng cho các doanh nghiệp bảo hiểm thông qua nhiều mô hình Bancassurance và tất cả đều dựa theo tiêu chí mức độ liên kết giữa ngân hàng và công ty bảo hiểm. Theo Nguyễn Hữu Hiểu (2009) có 4 loại mô hình liên kết bảo hiểm 10 với ngân hàng và trình bày theo mức độ kết hợp tăng dần: Mô hình thỏa thuận phân phối Đây được xem là mô hình phổ biến nhất trong 4 loại. Trong mô hình này, ngân hàng và công ty bảo hiểm ký hợp đồng phân phối sản phẩm bảo hiểm trong đó có sản phẩm BHNT và một công ty bảo hiểm có thể ký hợp đồng đại lý với nhiều ngân hàng, họ cung cấp một hoặc nhiều hoặc có sản phẩm riêng cho từng ngân hàng. Theo đó ngân hàng đóng vai trò là một đại lý của công ty bảo hiểm, làm người môi giới sản phẩm hoặc đại diện bán hàng.
Ngân hàng phân phối các sản phẩm bảo hiểm (bán riêng lẻ hoặc bán cùng với các sản phẩm ngân hàng) để nhận hoa hồng phí. Mô hình hợp tác phân phối có 2 hình thức: hợp tác phân phối không độc quyền và hợp tác phân phối độc quyền: - Hợp tác phân phối không độc quyền tức là ngân hàng có thể bán nhiều sản phẩm bảo hiểm của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác nhau mà họ đã ký kết hợp tác. - Hợp tác phân phối độc quyền tức là ngân hàng ký hợp đồng độc quyền chỉ duy nhất một doanh nghiệp bảo hiểm và bán mỗi sản phẩm bảo hiểm của công ty này. Ở hình thức hợp tác này, hai bên không cần hoặc chỉ chia sẻ một ít cơ sở dữ liệu khách hàng và có thể triển khai sản phẩm mà không cần phải đầu tư nhiều về cơ sở vật chất hay nghiên cứu sản phẩm.
Và điểm hạn chế ở trường hợp này là việc thiết kế các sản phẩm có đặc tính tích hợp với sản phẩm của ngân hàng gặp nhiều khó khăn do chi phí đầu tư ít. Mô hình đồng minh chiến lược Ngân hàng đầu tư vào doanh nghiệp bảo hiểm thông qua việc mua cổ phần.