Chương 1: Cở sở lý luận về bảo hiểm nhân thọ và các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ Chương 2: Mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng thị trường bảo hiểm nhân thọ và kết quả nghiên cứu Chương 4: Giải pháp nhằm gia tăng quyết định mua sản phẩm bảo hiểm nhân thọ của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn Hà Nội 7. Những đóng góp mới của đề tài Đề tài đã hệ thống, luận giải các nội dung về hành vi mua và quyết định mua bảo hiểm nhân thọ, vai trò của bảo hiểm nhân thọ, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ của khách hàng cá nhân. Trên cơ sở số liệu thứ cấp và các số liệu sơ cấp thu thập được, nhóm nghiên cứu đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ của khách hàng cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội bao gồm các nhân tố: mức độ chấp nhận rủi ro, cảm nhận lợi ích, hiểu biết bảo hiểm, chuẩn chủ quan, nhân viên ngân hàng, nhận thức khách hàng. 10 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG TỚI QUYẾT ĐỊNH MUA BẢO HIỂM NHÂN THỌ 1.
Khái quát về Bảo hiểm nhân thọ 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của bảo hiểm nhân thọ Trong nền kinh tế hiện nay, bảo hiểm là một ngành dịch vụ đang phát triển rất mạnh mẽ và thể hiện được vai trò quan trọng của mình trong đời sống cũng như tác động tới các ngành khác trong xã hội. BHNT ra đời từ rất sớm. Khoảng những năm 1600, khi giao thương hàng hải mang lại những khoản lợi lớn cho các thương gia Châu Âu. Nhưng đi liền với đó là những rủi ro lớn từ thiên tai, cướp biển.
chính vì vậy việc mua bảo hiểm cho con tàu và hàng hóa được nhiều các thương gia lựa chọn nhằm đảm bảo trước những rủi ro. Vào thời điểm đó, William Gybbon - một thuyền trưởng ở Anh đã suy nghĩ nếu các rủi ro trên xảy ra với hàng hóa thì con người cũng có thể gặp “họa”. Vị thuyền trưởng này đã yêu cầu công ty bảo hiểm bán thêm hợp đồng bảo hiểm cho sinh mạng của mình. Phí bảo hiểm ông phải đóng lúc đó là 32 bảng Anh, khi ông chết trong năm đó, người thừa kế của ông được hưởng 400 bảng Anh.
Bảo hiểm nhân thọ được hình thành từ đó và thực hiện nghĩa vụ bảo vệ con người trước những rủi ro xảy ra bất ngờ. Từ sự kiện đó, các công ty bảo hiểm thấy rằng con người cũng cần được bảo vệ như tàu thuyền, hàng hóa. Đến năm 1706, Hiệp hội Hòa hữu văn phòng bảo hiểm vĩnh viễn được thành lập tại London, đây là công ty đầu tiên cung cấp BHNT trong thời hiện đại. Đến năm 1759 công ty BHNT đầu tiên đã ra đời tại Philadenphia- Mỹ, nhưng lúc đầu chỉ bán hợp đồng bảo hiểm cho một số nhóm người nhất định.
Cho đến năm 1762, ở Anh thành lập công ty BHNT Equitable, đây là công ty đầu tiên thực hiện bán các hợp đồng bảo hiểm cho mọi người dân và áp dụng nguyên tắc phí bảo hiểm không đổi trong suốt thời gian bảo hiểm. Những năm 1800 là một thời kỳ bùng nổ của BHNT, hàng loạt các công ty ra đời và vẫn còn tồn tại đến ngày nay như: New York Life (thành lập năm 1845), Mass Mutual (thành lập năm 1851), Guardian Life (thành lập năm 1860) và Metlife (thành lập năm 1864). Đến năm 1968, đã ra đời công ty BHNT đầu tiên tại Châu Á - Công ty 11 Meiji của Nhật và đến năm 1888 và 1889 có 2 công ty khác là Kyoei và Nippon được hình thành và phát triển đến ngày nay. Những năm 1970 là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của BHNT, khi mà doanh số bán tại Mỹ tăng vọt.
Số liệu cho thấy có đến 72% người dân trưởng thành và hơn 90% các cặp vợ chồng Mỹ lựa chọn mua BHNT để xây dựng một tương lai vững vàng, an tâm tận hưởng cuộc sống. Ở Việt Nam trong những năm 1970, đã có công ty bảo hiểm nhân thọ Hưng Việt ra đời. Công ty bảo hiểm này triển khai được một số sản phẩm bảo hiểm như: BHNT trọn đời, bảo hiểm tử kỳ thời hạn 5 năm, 10 năm, 20 năm. Nhưng công ty mới ở giai đoạn đầu triển khai nên thị trường còn sơ khai và ít sản phẩm dịch vụ.
Công ty bảo hiểm Bảo Việt được thành lập và chính thức đi vào hoạt động ngày 15/01/1965 dưới sự quản lý trực tiếp của Bộ Tài chính. Trong thời gian này, Bảo Việt mới chỉ triển khai mảng bảo hiểm phi nhân thọ, mà chưa triển khai bảo hiểm nhân thọ. Tuy nhiên, Bảo Việt cũng đã chú trọng đến việc mở rộng và đa dạng hoá các nghiệp vụ bảo hiểm, đặc biệt là nghiệp vụ bảo hiểm con người, làm tiền đề cho việc triển khai bảo hiểm nhân thọ về sau. Đến năm 1996, thực hiện chủ trương mở rộng, cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tới các tầng lớp dân cư, Bảo Việt đã nghiên cứu và đưa ra thị trường dịch vụ bảo hiểm nhân thọ lần đầu tiên ở Việt Nam, thể hiện vai trò tiên phong của Bảo Việt trên thị trường bảo hiểm Việt Nam.
Ngày 20/3/1996, Bộ Tài Chính đã chính thức quyết định cho phép Bảo Việt triển khai 2 sản phẩm: Bảo hiểm hỗn hợp nhân thọ và Bảo hiểm an sinh giáo dục. Kể từ khi có sự ra đời của các công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài như Công ty BHNT Chinfon Manulife (nay là Manulife), Prudential, Bảo Minh-CMG (nay là Dai-ichi Life), Công ty BHNT quốc tế Mỹ AIA, thị trường bảo hiểm Việt Nam trong đó có BHNT mới chấm dứt giai đoạn độc quyền nhà nước về bảo hiểm và bắt đầu đi vào phát triển và có sự cạnh tranh. Như vậy, từ rất xa xưa con người đã thấy được tầm quan trọng của bảo hiểm nhân thọ với cuộc sống con người. Trải qua một quá trình hình thành và phát triển lâu dài, BHNT đã trở thành một công cụ không thể thiếu tại các quốc gia phát triển.
Còn ở các quốc gia khác thì BHNT cũng đang ngày càng phát triển với tốc độ nhanh chóng, đầy tích cực và tiềm năng.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của BHNT Khái niệm Theo quy định tại khoản 12 Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 thì BHNT là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hay chết. Tác giả Nguyễn Văn Định, (2010) thì đưa ra khái niệm BHNT là sự cam kết giữa doanh nghiệpmbảo hiểm với người tham gia bảo hiểm (người được bảo hiểm) trong đó doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm trả cho người tham gia bảo hiểm (người được bảo hiểm) một khoản tiền nhất định khi có những sự kiện đã định trước xảy ra (người được bảo hiểm bị chết, thương tật toàn bộ vĩnh viễn, hay còn sống đến một thời điểm chỉ rõ trong hợp đồng). Còn người tham gia bảo hiểm có trách nhiệm nộp phí bảo hiểm đầy đủ và đúng hạn. Theo phương diện pháp lý, BHNT là là hợp đồng cam kết chi trả tiền bảo hiểm của công ty bảo hiểm nhân thọ khi người được bảo hiểm không may xảy ra rủi ro bất trắc với điều kiện bên mua bảo hiểm đóng phí định kỳ đầy đủ theo thời gian thỏa thuận trước có thể là 5 năm, 10 năm, 30 năm….
Trong đó: - Công ty BHNT là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo các quy định khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm. - Người được bảo hiểm là người mà sức khỏe, tính mạng của người đó là đối tượng được bảo hiểm chính của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ. Hiện nay, một hợp đồng bảo hiểm chỉ có một người được bảo hiểm chính (trừ một số sản phẩm tham gia cho thai phụ). - Bên mua bảo hiểm thực chất là người đóng phí bảo hiểm định kỳ để duy trì hợp đồng.
Người được bảo hiểm có thể là bên mua bảo hiểm. Theo phương diện kỹ thuật, BHNT là nghiệp vụ bao hàm những cam kết mà sự thi hành những cam kết này thuộc chủ yếu vào tuổi thọ của con người. Nói chung, BHNT là một cách để đối phó với rủi ro và là một phương thức tiết kiệm cho người tiêu dùng. Một hợp đồng bảo hiểm có hai phần: phần bảo hiểm nhân thọ chính và phần bảo hiểm bổ trợ mua kèm sản phẩm chính.
Theo đó, phụ thuộc vào từng gói bảo hiểm mà khách hàng tham gia, bảo hiểm nhân thọ sẽ bảo hiểm cho những rủi ro tai nạn, thương tật, bệnh hiểm nghèo, tử vong và ốm đau nằm viện, phẫu thuật, nha khoa, thai sản… 13 Mục đích chính của bảo hiểm nhân thọ là bảo vệ con người trước những rủi ro bất ngờ, nhưng bên cạnh đó bảo hiểm nhân thọ kết hợp yếu tố tiết kiệm và đầu tư. Đặc điểm của bảo hiểm nhân thọ Dịch vụ BHNT là loại hình bảo hiểm chỉ liên quan đến các sự việc xảy ra trong cuốc sống của con người. Do đó, BHNT có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, BHNT vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính rủi ro. Đây là một trong những đặc điểm khác nhau cơ bản giữa BHNT với bảo hiểm phi nhân thọ.
Mỗi người mua BHNT sẽ định kỳ nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm cho công ty bảo hiểm, ngược lại công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả số tiền lớn hơn (gọi là số tiền bảo hiểm) cho người hưởng quyền lợi bảo hiểm như đã thoả thuận từ trước khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra. Số tiền bảo hiểm được trả khi người được bảo hiểm đạt đến một độ tuổi nhất định ấn định trong hợp đồng. Hoặc số tiền này được trả cho thân nhân và gia đình người được bảo hiểm khi người này không may bị chết sớm, ngay cả khi họ mới tiết kiệm được một khoản rất nhỏ qua việc đóng phí bảo hiểm. Số tiền này giúp những người còn sống trang trải những khoản chi phí cần thiết như thuốc men, mai táng, chi phí giáo dục con cái… Chính vì vậy, BHNT vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính rủi ro.
Thứ hai, BHNT đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau của người tham gia bảo hiểm. Trong khi các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ chỉ đáp ứng được một mục đích là góp phần khắc phục hậu quả khi đối tượng tham gia bảo hiểm gặp sự cố, từ đó góp phần ổn định tài chính cho người tham gia, thì BHNT đã đáp ứng được nhiều mục đích khác nhau.