Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu. Chương này sẽ giới thiệu tổng quan về vấn đề cần nghiên cứu: tính cấp thiết của để tài; mục tiêu nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; tính mới và ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trình bày một số cơ sở lý thuyết có liên quan đến chất lượng sản phẩm và dich vụ, sự hài lòng của khách hàng, một số mô hình tiêu biểu nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng. Giới thiệu khái quát về thị trường nhà ở tại Việt Nam và thành phố Hồ Chí Minh nói chung; giới thiệu về công ty, công tác đầu tư dự án và bán nhà ở từ năm 2005-2014 của Công ty Cổ phần Địa ốc 8.
Từ đó, xây dựng mô hình lý thuyết của đề tài và các giả thuyết có thể tác động đến sự hải lòng của khách hàng. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Tác giả sẽ trình bày các phương pháp nghiên cứu khoa học được sử dụng để xây dựng và đánh giá các thang đo dùng để đo lường các khái niệm cũng như kiểm định mô hình và các giả thuyết đã đặt ra trong chương I. Nội dung chính của chương này bao gồm: Thiết kế nghiên cứu; Mẫu nghiên cứu và Thiết kế thang đo.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Nội dung chương 4 sẽ bao gồm các phần chính sau: Mô tả mẫu khảo sát, Đánh giá thang đo bằng cách phân tích độ tin cay Cronbach’s Alpha, phan tich nhân tố khám phá EFA; Hiệu chỉnh mô hình nghiên cứu và các giả thuyết; Kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu bằng phần mềm thống kê để phân tích hệ số tương quan Pearson, phân tích hồi quy đa biến. Chương 5: Kết luận, hàm ý quản trị và hướng nghiên cứu tiếp theo. Nội dung chương này bao gồm các phần chính như sau: Kết quả chính và đóng góp của nghiên cứu; Xác định vấn đề cần cải thiện; Các hàm ý quản trị; Đưa ra những hạn chế của đề tài, những hướng nghiên cứu phát triển đề tài này.
CHƯƠNG2 CƠ SỞ LÝ THUYÉT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. CHẤT LƯỢNG SẢN PHẢM, DỊCH VỤ. Khái niệm về chất lượng. Hàng ngày, thuật ngữ “chất lượng” thường xuyên được sử dụng.
Chất lượng là một phạm trù rộng, phức tạp và có rất nhiều các quan điểm khác nhau được các nhà nghiên cứu đưa ra trên cơ sở nghiên cứu ở các giác độ khác nhau. Trong mỗi lĩnh vực khác nhau, với mục đích khác nhau, cách tiếp cận khác nhau thì quan điểm về chất lượng cũng khác nhau, mỗi khái niệm đều có cơ sở khoa học nhằm giải quyết mục tiêu, nhiệm vụ nhất định trong thực tễ. -_ Hiện nay có một số định nghĩa về chất lượng đã được các chuyên gia chất lượng đưa ra.Juran cho rằng chất lượng bao gồm những đặc điểm của sản phẩm phù hợp với nhu cầu của khách hàng và tạo ra sự thỏa mãn đối với khách hàng (dẫn theo Phạm Ngọc Tuấn và Nguyễn Như Mai, 2003). Giáo sư Ishikawa lại quan niệm chất lượng là sự thoả mãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất (dẫn theo Lưu Thanh Tâm, 2003).
Crosby thì chất lượng là sự phù hợp với các yêu cầu hay đặc tính nhất định (dẫn theo Ngô Thị Ánh et al. Có ý kiến khác lại cho rằng chất lượng là cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật hoặc là cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia (Nguyễn Như Y, 2009). Tuy nhiên, có một định nghĩa về chất lượng được thừa nhận ở phạm vi quốc tế, đó là định nghĩa của Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế.1 của tiêu chuẩn ISO 9000:2000 định nghĩa chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu. Từ các định nghĩa trên ta rút ra một số đặc điểm sau đây của khái niệm chất lượng: Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu.
Nếu một sản phẩm vì lý do nào đó mà không đáp ứng được nhu cầu thì phải bị coi là có chất lượng kém, cho dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại. Đây là một kết 10 luận then chốt và là cơ sở để các nhà chất lượng định ra chính sách, chiến lược kinh doanh của mình. Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng. Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta phải xét và chỉ xét đến mọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể.
Các nhu cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên có liên quan, ví dụ như các yêu cầu mang tính pháp chế, nhu cầu của cộng đồng xã hội. Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các qui định, tiêu chuẩn nhưng cũng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sử dụng chỉ có thể cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được chúng trong quá trình sử dụng. Chất lượng không chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa mà ta vẫn hiểu hàng ngày. Chất lượng có thê áp dụng cho một hệ thống, một quá trình.
Qua nghiên cứu từ các lý thuyết, tài liệu có liên quan, có thê rút ra khái niệm về chất lượng như sau: Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan. Sản phẩm và những đặc điểm của sản phẩm. Khái niệm sản phẩm. Theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000:2000 thì sản phẩm là kết quả của một quá trình tập hợp các hoạt động có liên quan lẫn nhau hoặc tương tác (với nhau) để biến đổi đầu vào (input) và đầu ra (output).
Xét dưới góc độ của Marketing, Kotler (2001) cho rằng sản phẩm được hình thành bởi các yếu tố khác nhau do con người tạo ra: logo, quảng cáo, nhãn mác. Theo TCVN 5814 (1994), sản phẩm là kết quả của các hoạt động hoặc các quá trình. Theo quan điểm này, có nhiều cách phân loại sản phẩm theo những quan điểm khác nhau. Một trong cách phân loại phổ biến là người ta chia sản phẩm thành 2 nhóm lớn là nhóm sản phẩm thuần vật chất gồm những vật phẩm mang đặc tính lý hóa nhất định và nhóm sản phẩm phi vật phẩm: đó là các dịch vụ.
Các mức độ của sản phẩm. Phần lớn các sản phẩm được cấu trúc ở năm mức độ: lợi ích cốt lõi, sản phẩm chung, sản phẩm mong đợi, sản phẩm hoàn thiện và sản phẩm tiềm ẩn. Lợi ích cốt lõi: là công dụng hay lợi ích cơ bản mà người mua đã mua. Sản phẩm chung: là sản phẩm cơ bản được thừa nhận đúng như thực trạng của nó.
Sản phẩm mong đợi: là tập hợp những thuộc tính và điều kiện người mua thường mong đợi khi mua sản phẩm. Sản phẩm hoàn thiện: là những dịch vụ và lợi ích phụ thêm mà người bán bổ sung vào để làm cho sản phẩm của mình khác biệt với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. San phẩm tiềm ẩn: là tập hợp những tính chất và dịch vụ mới có thể có mà cuối cùng sẽ được bổ sung vào hàng hóa. Phân loại sản phẩm.
Sản phẩm được phân loại thành 3 nhóm căn cứ theo độ bền hay tính hữu hạn của chúng. Thứ nhất, những sản phẩm lâu bền là những thứ hàng hóa hữu hình thường sử dụng được nhiều lần. Thứ hai, những sản phẩm không lâu bên là những hàng hóa hữu hình thường bị tiêu hao sau một lần hay vài lần sử dụng. Loại cuối cùng là dịch vụ gồm những hoạt động, lợi ích hay sự thỏa mãn được đưa ra đề bán.
Chu kỳ sống của sản phẩm còn gọi là "vòng đời sản phẩm", gồm có 04 giai đoạn: Giai đoạn tung ra thị truờng để quảng bá sản phẩm, đây là thời kỳ mức tiêu thụ tăng trưởng chậm theo mức độ tung hàng ra thị trường. Giai đoạn phát triển, là thời kỳ hàng hóa được thị trường chấp nhận nhanh chóng và lợi nhuận tăng lên đáng kể. Giai đoạn sung mãn, là thời kỳ nhịp độ tăng mức tiêu thy cham dan lai do hầu hết những người mua tiềm ẩn đã chấp nhận sản phẩm. Giai đoạn suy thoái, là thời kỳ mức tiêu thụ có chiều hướng đi xuống và lợi nhuận giảm.
Nhà ở và các đặc điểm cơ bản của nhà ở. Khái niệm nhà ở. Thời kỳ nguyên thuỷ, nhà ở chỉ đơn giản là nơi che mưa, che nắng, tránh thú dữ. Cuộc sống phát triển cũng là lúc tầm quan trọng của ngôi nhà được nâng lên.
12 Nhà ở đã trở thành nơi diễn ra mọi sinh hoạt, nơi tái tạo sức lao động và còn là một hàng hoá đặc biệt. Theo từ điển Tiếng Việt "nhà" được định nghĩa là: công trình xây dựng có mái, có tường vách dé ở hay để dùng vào một công việc nào đó. Theo Điều 3 Luật nhà ở số 65/2014/ QH13 ngày 25/11/2014 đã nêu rất rõ ràng từng khái niệm của nhà ở, nhà ở ri êng lẻ, nhà chung cư, nhà ở thương mại. Đặc điểm của nhà ở.
Có thê khẳng định, nhà ở là một loại hàng hoá đặc biệt vì những lý do sau đây: Nhà ở gắn liền với vị trí đất đai cố định nên không thể đi chuyển được, không mang đi để trao đổi mua bán như những loại hàng hoá khác; Nhà ở là một trong những loại hàng hóa có giá trị đắt nhất. Do chỉ phí xây dựng lớn, giá thành nguyên vật liệu cao và quỹ đất xây đựng luôn có giới hạn so với mức gia tăng của dân số nên giá nhà ở là rất đắt, đặc biệt nhà ở tại những thành phố lớn; Nhà ở có tính bền vững, lâu dài. Một ngôi nhà có thể là nơi sinh hoạt của một hoặc nhiều thế hệ trong một hay nhiều gia đình; Giá nhà ở trước hết phụ thuộc vào giá đất, tiếp theo là phụ thuộc vào mức độ bền vững về kết cấu xây đựng, mức thuận tiện trong sinh hoạt. Mức giá nhà ở được chia thành hai phần gồm: mức giá đất và mức giá xây dựng; Việc xây dựng, giao dịch mua bán, chuyển nhượng nhà ở phải thực hiện theo những quy định chặt chẽ của pháp luật.
Phát triển nhà ở. Phát triển nhà ở bao gồm 02 hình thức là phát triển nhà ở theo dự án và phat triển nhà ở của hộ gia đình, cá nhân.