ĐẶT VẤN ĐỀ Dược phẩm là hàng hóa đặc biệt liên quan trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng.1 Ngày nay, nỗ lực chăm sóc sức khỏe ban đầu là hoạt động duy trì và cải thiện nhằm đạt được tình trạng sức khỏe tối ưu. Một trong những nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu người dân dễ dàng tiếp cận nhất là nhà thuốc cộng đồng.2 Trong một hệ thống chăm sóc sức khỏe, nhà thuốc có vai trò chức năng và xã hội quan trọng. Trải qua nhiều thập kỷ, hoạt động của nhà thuốc đã có nhiều dấu hiệu thay đổi tích cực và tiến tới vai trò chăm sóc sức khỏe toàn diện ngoài việc cung cấp thuốc. Theo số liệu thống kê tại nhiều nước, mỗi năm hơn một nửa giá trị tiền thuốc tiêu thụ được đưa đến tay khách hàng là qua kênh phân phối bán lẻ thuốc.
Như vậy các nhà thuốc hoạt động với một vai trò kép, đóng vai trò vừa là nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc vừa là cơ sở bán lẻ.3 Những tiến bộ gần đây trong lĩnh vực công nghệ thông tin tiếp tục làm xói mòn sự bất đối xứng về thông tin liên quan đến thuốc giữa dược sĩ và bệnh nhân.4 Nhiều bằng chứng chỉ ra rằng khi bệnh nhân hài lòng với chất lượng dịch vụ (CLDV) được cung cấp, họ sẵn sàng duy trì mối quan hệ thân thiết với các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc và tuân thủ điều trị để có sức khỏe tốt hơn.5 Từ những lý do trên, đề tài: “Ảnh hưởng chất lượng dịch vụ đến lòng trung thành của khách hàng tại nhà thuốc: nghiên cứu tại Dĩ An – Bình Dương” được thực hiện nhằm nghiên cứu những yếu tố tác động đến lòng trung thành của khách hàng đối với dịch vụ bán lẻ thuốc để từ đây đề ra các giải pháp nâng cao CLDV tại nhà thuốc. Nghiên cứu được thực hiện với các mục tiêu sau: 1. Xác định các yếu tố nhân khẩu học làm thay đổi các tác động của CLDV tại nhà thuốc đến sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng. Khảo sát mức độ ảnh hưởng của CLDV đến sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng tại các nhà thuốc.
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao CLDV tại các nhà thuốc thuộc địa bàn phường Dĩ An. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 2. Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ 2.
Khái niệm Dịch vụ là một khái niệm phổ biến nên có rất nhiều cách định nghĩa. Nhìn chung các định nghĩa đều thống nhất dịch vụ là sản phẩm của lao động, không tồn tại dưới dạng vật thể, quá trình sản xuất và tiêu thụ xảy ra đồng thời, nhằm đáp ứng nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng. Theo Adrian Payne (2018): Dịch vụ là hoạt động có gắn liền một yếu tố vô hình với nó và có sự tương tác giữa nhà cung cấp với khách hàng hoặc giữa dịch vụ với tài sản của khách hàng.6 Theo Zeithaml & Britner (2006): Dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng.7 Theo Kotler & Armstrong (2002): Dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng.8 Theo Svensson (2002): Dịch vụ là sản phẩm vô hình, không đồng nhất và cũng không thể tách ly. Trong quá trình tiêu dùng dịch vụ, chất lượng dịch vụ thể hiện quá trình tương tác giữa khách hàng và nhân viên của công ty cung cấp dịch vụ.9 Có nhiều khái niệm về dịch vụ được phát biểu dưới những góc độ khác nhau nhưng nhìn chung thì dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu của con người.
Đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ gắn liền với hiệu suất/thành tích bởi mỗi dịch vụ đều gắn với mục tiêu là mang lại giá trị cho người tiêu dùng. Hiệu suất ở đây chính là những tiện ích, giá trị mà khách hàng nhận được sau khi sử dụng dịch vụ. Hiện nay có rất nhiều loại hình dịch vụ đa dạng khác nhau, nhưng về cơ bản chúng đều có những đặc điểm chính giống nhau. 3 Tính vô hình Một dịch vụ thuần túy không thể được đánh giá bằng cách sử dụng bất kì giác quan cơ thể nào trước khi nó được mua.
Có nghĩa là chúng ta không thể nghe, ngửi, nếm hay nói cách khác là không thể cảm nhận bằng các giác quan về dịch vụ trước khi mua chúng. Để giảm bớt mức độ không chắc chắn, người mua sẽ tìm kiếm các dấu hiệu hay bằng chứng về dịch vụ. Họ sẽ suy diễn về chất lượng dịch vụ từ địa điểm, con người, trang thiết bị, tài liệu, thông tin, biểu tượng và giá cả mà họ nhận thấy được.10 Tính không thể tách rời Đặc thù của dịch vụ là được sản xuất và tiêu thụ đồng thời cùng một lúc điều này khiến cho các dịch vụ không thể tách rời với nhà cung cấp. Tính không tách rời của dịch vụ thể hiện ở việc khó có thể phân chia dịch vụ thành hai giai đoạn rạch ròi là giai đoạn sản xuất và giai đoạn sử dụng.
Điều này không đúng đối với hàng hoá vật chất được sản xuất ra rồi tiến hành nhập kho, phân phối thông qua nhiều kênh trung gian mua bán, rồi mới được sử dụng sau khi đến tay người tiêu dùng. Đối với sản phẩm hàng hoá, khách hàng chỉ sử dụng sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng. Còn đối với dịch vụ, khách hàng phải đồng hành trong suốt hoặc một phần của quá trình tạo ra dịch vụ. Với những dịch vụ có hàm lượng lao động cao, ví dụ như chất lượng xảy ra trong quá trình chuyển giao dịch vụ thì chất lượng dịch vụ thể hiện trong quá trình tương tác giữa khách hàng và nhân viên của công ty cung cấp dịch vụ.9 Tính không đồng nhất Đặc tính này còn gọi là tính khác biệt của dịch vụ.
Thể hiện ở đặc điểm chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào người cung cấp dịch vụ, thời gian, địa điểm và cách thức dịch vụ được cung cấp. Sẽ rất khó để có một tiêu chuẩn chung khi đánh giá về chất lượng của dịch vụ. Mỗi khách hàng sử dụng sẽ có những phản hồi không giống nhau sau khi sử dụng dịch vụ. Đặc tính này thể hiện rõ nhất đối với các dịch vụ bao hàm sức lao động cao.
Việc đòi hỏi chất lượng đồng nhất từ đội ngũ nhân viên sẽ rất khó đảm bảo. Lý do là những gì công ty dự định phục vụ thì có thể hoàn toàn khác với những gì mà người tiêu dùng nhận được.11 4 Tính không thể cất trữ Dịch vụ khác với các hàng hóa thông thường ở chỗ nó không thể được cất trữ, lưu kho rồi đem đi bán như những loại hàng hóa khác. Nói cách khác, dịch vụ nhạy cảm hơn các hàng hóa thông thường trước những thay đổi và sự đa dạng của nhu cầu. Tính không thể cất trữ chính là hệ quả của đặc điểm không thể tách rời và đặc điểm vô hình.
Tính không lưu giữ được của dịch vụ sẽ không thành vấn đề khi mà nhu cầu ổn định. Khi nhu cầu thay đổi, các công ty dịch vụ sẽ gặp khó khăn. Chính vì vậy, dịch vụ là sản phẩm được sử dụng khi tạo thành và kết thúc ngay sau đó.11 Ngoài ra dịch vụ còn rất nhiều đặc điểm khác nữa, chúng luôn bổ trợ lẫn nhau để tạo nên một hệ thống dịch vụ toàn diện đáp ứng được nhu cầu cần thiết của khách hàng trong tương lai. Khái niệm và tầm quan trọng của chất lượng 2.
Khái niệm Chất lượng là khái niệm đặc trưng cho khả năng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Sản phẩm hay dịch vụ không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì bị coi là kém chất lượng cho dù trình độ công nghệ sản xuất ra có hiện đại đến đâu đi nữa. Đánh giá chất lượng cao hay thấp phải đứng trên quan điểm người tiêu dùng chứ không phải dựa hoàn toàn trên quan điểm của nhà sản xuất. Cùng một mục đích sử dụng như nhau, sản phẩm nào thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng cao hơn thì có chất lượng cao hơn.
Edwards Deming (1994): Chất lượng là mức độ được dự đoán trước về tính đồng đều có thể tin cậy được, tạo ra mức chi phí thấp được thị trường chấp thuận.12 Theo Parasuraman, Zeithaml & Berry (1988): Chất lượng là sự đáp ứng hoặc vượt quá sự mong đợi của khách hàng.13 Theo Kaoru Ishikawa (1985): Chất lượng là sự thỏa mãn nhu cầu thị trường với mức chi phí thấp nhất. Tầm quan trọng của chất lượng Người tiêu dùng ngày nay rất xem trọng đến giá trị của chất lượng. Đôi khi, có những trường hợp giá cả chưa hẳn là nhân tố quyết định đến sự lựa chọn của khách hàng. 5 Trong nhiều trường hợp, chất lượng còn thay thế cho giá cả.
Khách hàng sẵn sàng chi trả mức chi phí cao để được phục vụ mặt hàng có chất lượng tốt nhất. Có thể nói, chất lượng có vai trò vô cùng quan trọng, thậm chí quyết định đến sự tồn tại, phát triển của một doanh nghiệp. Khái niệm chất lượng dịch vụ Trong hai thập kỷ qua, bối cảnh kinh doanh đã thay đổi đáng kể. Sự trao đổi, chia sẻ thông tin diễn ra nhanh chóng, thuận tiện hơn trước đã hỗ trợ tích cực cho việc duy trì mối quan hệ giữa các đối tác thương mại và mạng lưới khách hàng.
Bên cạnh đó, sức ép từ thị trường cạnh tranh gay gắt buộc doanh nghiệp phải thay đổi sản phẩm, dịch vụ một cách linh hoạt và hiệu quả; đồng thời phải chú trọng giới thiệu sản phẩm, dịch vụ mới nhằm đáp ứng nhanh chóng nhu cầu khách hàng.15 Kể từ thập niên 1980, các nhà khoa học đã bắt đầu nghiên cứu cơ sở lý thuyết về chất lượng dịch vụ như: Theo Philip Kotler & cộng sự (2014): Chất lượng dịch vụ được định nghĩa là khả năng của một dịch vụ bao gồm độ bền tổng thể, độ tin cậy, độ chính xác, sự dễ vận hành, dễ sửa chữa và các thuộc tính có giá trị khác để thực hiện các chức năng.16 Theo Arun Kumar G. & cộng sự (2012): Chất lượng dịch vụ được xem là phương thức tiếp cận quan trọng trong quản lý kinh doanh nhằm đảm bảo sự hài lòng của khách hàng, đồng thời giúp tăng khả năng cạnh tranh và hiệu quả của ngành.17 Theo Parasuraman & cộng sự (1985) cho rằng: Chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi (kỳ vọng) của khách hàng và nhận thức (cảm nhận) của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ.