CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÈ TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại ra đời và phát triển gắn liền với các hoạt động sản xuất kinh doanh của con người và nền kinh tế. Tại các nước phát triển, hầu hết các cá nhân, doanh nghiệp đều có quan hệ giao dịch với NHTM. NHTM được xem là một định chế tài chính trong nền kinh tế. Khi nền kinh tế càng phát triển, hoạt động dịch vụ củaNHTM đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng cung ứng và trở thành cần thiết trong đời sống con người.
Hầu hết người dân đều chịu sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp từ các ngân hàng, dù họ chỉ là khách hàng gửi tiền, người đi vay hay người đang làm việc tại các doanh nghiệp có vay vốn và sử dụng các dịch vụ khác của ngân hàng. Nên kinh tế hàng hóa ra đời và phát triển, kéo theo hoạt động kinh doanh tiền tệ của các NHTM cũng ra đời và phát triển. Với chức năng là người đi vay để cho vay, hay trung gia tài chính, làm cầu nối giữa người gửi tiền và người đi vay nên hệ thống ngân hàng đã trở thành một ngành kinh tế huyết mạch, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Dưới nhiều góc độ tiếp cận nghiên cứu khác nhau, thì có nhiều quan điểm khác nhau về NHTM: Dựa vào cách tiếp cận loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung ứng, Rose (1997) quan điểm: “Ngân hàng là một loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”.
Dựa trên các hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM, Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 (được sử đổi bổ sung năm 2004) quy định: “Ngân hàng là một loại hình tổ chức tín dụng được thể hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh 8 khác có liên quan. Các loại hình ngân hàng chủ yếu bao gồm: NHTM, ngân hàng Phát triển, ngân hàng Đầu tư, ngân hàng Chính sách, ngân hàng Hợp tác và các loai hình ngân hàng khác”. Từ các quan điểm nêu trên, có thể tháy NHTM là doanh nghiệp đặc biệt hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với nghiệp vụ chủ yếu là huy động vốn và cho vay. Ngoài ra, Các NHTM còn thực hiện các chức năng nghiệp vụ khác như chức năng thanh toán và cung ứng các dịch vụ khác chuyển tiền, thu chi hộ,.
Trên thị trường tài chính, các loại hình tổ chức hoạt động kinh doanh tiền tệ tham gia hoạt động đan xen lẫn nhau, đa dạng phong phú cùng với một số tổ chức tín dụng phi ngân hàng cũng được thực hiện một số nghiệp vụ của NHTM. Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng không được thực hiện nghiệp vụ huy động vốn và không tham gia vào chức năng thanh toán. Đây là điểm khác biệt nhằm phân biệt sự khác nhau giữa NHTM và các tổ chức tín dụng khác.2 Chức năng và vai trò của Ngân hàng thương mại 1. ỉ Chức năng của ngần hàng thương mại Theo Trầm Thị Xuân Hưong và Hoàng Thị Minh Ngọc (2010), ngân hàng thưong mại có các chức năng sau: * Chức năng trung gian tài chính Nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng được thực hiện bằng cách tập trung các nguồn nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để tạo ra nguồn vốn cho vay và sử dụng nguồn vốn đó thực hiện cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của các chủ thể cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế.
Như vậy, “ngân hàng vừa mua tiền lại vừa bán tiền” phần chênh lệch giữa giá bán và giá mua đó là lợi nhuận của NHTM. Chức năng này có ý nghĩa giúp điều hòa vốn tiền tệ từ nơi thừa đến nơi thiếu hụt, làm giảm tối đa lượng vốn nhàn rỗi trong xã hội, góp phần thúc đẩy quá trình lưu thông vốn tiền tệ trong xã hội nhanh chóng. 9 Đối với khách hàng gửi tiền, chức năng này giúp cho vốn nhà rỗi gia tăng khả năng sinh lời lại vừa đảm bảo an toàn vốn. Đối với khách hàng vay tiền, vừa thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời bị thiếu hụt trong hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và tiêu dùng, bên cạnh đó lại tiết kiệm chi phí và thời gian tìm kiếm nguồn vốn cung ứng an toàn và hợp pháp.
* Chức năng trung gian thanh toán Vói tư cách đi vay để cho vay, các NHTM đã cung cấp dịch vụ thanh toán cho khách hàng. Thay vì thanh toán trực tiếp, các doanh nghiệp, cá nhân có thể thông quaNHTM thực hiện công việc thanh toán dựa vào khoản tiền họ đã gửi ỏ ngân hàng, thông qua việc mang tiền của người mua hàng trả cho người thụ hưởng bằng nhiều hình thức khác nhau vói công nghệ ngày càng hiện đại và thủ tục thanh toán càng được đon giản hóa. Chức năng này có ý nghĩa với nền kinh tế vì đã tạo điều kiện thuận lợi giúp khách hàng thanh toán nhanh chóng, hiệu quả và an toàn. Từ đó, đẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hoá, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Chức năng này là tiền đề co sở để các NHTM tạo ra tiền ghi sổ, góp phần tăng quy mô tín dụng cho nền kinh tế, vừa tiết kiệm tiền mặt lưu thông dẫn đến tiết kiệm chi phí trong lưu thông tiền tệ, tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều dịch vụ ngân hàng khác phát triển. * Chức năng tạo tiền Chức năng nỳ không giói hạn trong việc phát hành thêm tiền và in tiền mới của ngân hàng nhà nước. Các NHTM trong quá trình hoạt động kinh doanh vẫn có thể tạo ra tiền tín dụng hay còn gọi là tiền ghi sổ thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại NHTM. Đây chính là một bộ phận của lượng tiền được sử dụng trong các giao dịch.
Từ tài khoản dữ trữ ban đầu, thông qua hoạt động cho vay bằng chuyển khoản, hệ thống NHTM có kahr năng tạo ra số lượng tiền gửi gấp nhiều lần so với số dự trữ 10 tăng thêm ban đầu. Mức mở rộng tiền gửi phụ thuộc vào hệ số mở rộng tiền gửi. Hệ số này chịu tác động trực tiếp bởi tỷ lệ dữ trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ vượt mức và tỷ lệ giữa tiền mặt so vói tiền gửi thanh toán. Chức năng tạo tiền được thực hiện trên hai chức năng đó là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán.
Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng nguồn vốn huy động để thực hiện cho vay khách hàng, số tiền cho vay được khách hàng sử dụng đẻ mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng được xem là một phần của tiền giao dịch. Chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh té, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Chức năng này chỉ ra mối quan hệ tương quan giữa tín dụng ngân hàng và lưu thông tiền tệ. Các NHTM cho vay ra nền kinh tế một lượng tín dụng lớn, điều này làm tăng khả năng tạo tiền của các NHTM, từ đó làm tăng lượng tiền cung ứng.2 Vai trò của ngần hàng thương mại NHTM giúp các doanh nghiệp lượng vốn đầu tư để mở rộng sản xuất kinh doanh, gia tăng nguồn vốn lưu động, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Các NHTM góp phần hình thanh, duy trì và phát triển nền kinh tế theo cơ cấu ngành và khu vực nhất định. Bên cạnh đó, các NHTM góp phần điều chỉnh ngành, khu vực khi xuất hiện sự mất cân đối hoặc khi cần có sự thay đổi cho phù hợp với điều kiện thị trường. Các NHTM tạo ra môi trường cho việc thực hiện chính sách tiền tệ của NHTW. NHTM làm cầu nối, là trung gian giữa NHTW với nền kinh tế để thực hiện chính sách tiền tệ.
NHTM góp phần thúc đẩy cho việc phát triển kinh tế đối ngoại và hợp tác quốc tế của hệ thống ngân hàng, từ hoạt động nay giúp khai thác được nguồn vốn đáng kể từ nước ngoài nhằm phát triển nền kinh té. Hiện nay, quan hệ song phương về hợp tác ngân hàng giữa Việt Nam với các nước đã không ngừng phát triển và mở rộng.3 Các nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng thương mại Theo Trầm Thị Xuân Hương và Hoàng Thị Minh Ngọc (2010), ngân hàng thương mại có các nghiệp vụ cơ bản sau: - Huy động vốn: Hoạt động huy động vốn chiếm vị trí quan trọng trong các hoạt động của Ngân hàng. Ngân hàng huy động vốn chủ yếu dưới hình thức nhận tiền gửi. Khi một Ngân hàng bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng cách đó Ngân hàng huy động của các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và của dân cư.
Huy động vốn bao gồm huy đông tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội, tiền gửi tiết kiệm của dân cư, tiền gửi của các ngân hàng khác. Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng còn được thực hiện bằng việc phát hành các loại giấy tờ, hoặc đi vay các tổ chức tín dụng khác. - Cho vay: là việc Ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định. Cho vay là tài sản lớn nhất trong khoản mục tín dụng, cho vay thường được định lượng theo hai chỉ tiêu là doanh số vay là dư nợ cuối kỳ.
Hoạt động cho vay đem lại một tỷ lệ sinh lời cao nhất nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Các loại hình cho vay bao gồm cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng và tài trợ cho dự án. Để đảm bảo cho khoản vay của Ngân hàng sinh lời và an toàn thì khi vay Ngân hàng cần tuân thủ theo đúng các nguyên tắc tín dụng. - Hoạt động ngân quỹ: Là hoạt động đảm bảo khả năng chi trả thanh toán thường xuyên của Ngân hàng.
- Hoạt động đầu tư: Ngân hàng có thể tham gia vào các hoạt động đầu tư trên thị trường chứng khoán, góp phần liên doanh liên kết nhằm sinh lợi và phân tán rủi ro.