Luận án tiến sĩ: Tác động của tính bền vững doanh nghiệp đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp du lịch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ - Võ Thị Tâm, ĐH Lạc Hồng

Phân tích tác động của tính bền vững doanh nghiệp đến hiệu quả hoạt động du lịch tại DHNTB. Nghiên cứu các chiến lược phát triển bền vững cho ngành du lịch.

Trường đại học

Trường Đại học Lạc Hồng

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

261
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan tính bền vững doanh nghiệp và hiệu quả du lịch

Tính bền vững doanh nghiệp (Corporate Sustainability - CS) là khái niệm cốt lõi trong quản trị kinh doanh hiện đại. CS bao gồm ba trụ cột chính: kinh tế, xã hội và môi trường. Trụ cột kinh tế tập trung vào quản lý tài chính hiệu quả và tạo giá trị dài hạn cho doanh nghiệp. Trụ cột xã hội nhấn mạnh việc giảm bất bình đẳng, cải thiện chất lượng cuộc sống và xây dựng mối quan hệ tốt với các bên liên quan. Trụ cột môi trường yêu cầu doanh nghiệp giảm thiểu ô nhiễm, tiết kiệm tài nguyên và tuân thủ quy định bảo vệ môi trường. Trong ngành du lịch, tính bền vững đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Du lịch phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên và văn hóa địa phương. Doanh nghiệp du lịch cần cân bằng giữa lợi nhuận kinh tế và bảo tồn tài nguyên. Nghiên cứu tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa CS và hiệu quả hoạt động du lịch. Doanh nghiệp áp dụng CS đạt được kết quả kinh doanh bền vững hơn.

1.1. Khái niệm tính bền vững doanh nghiệp

Tính bền vững doanh nghiệp là cách tiếp cận quản lý tích hợp ba yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường. Báo cáo Brundtland năm 1987 định nghĩa phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai. Trong bối cảnh doanh nghiệp, CS đòi hỏi quản lý hoạt động kinh doanh có trách nhiệm. Doanh nghiệp phải tạo ra lợi nhuận đồng thời bảo vệ môi trường và đóng góp cho xã hội. CS không chỉ là trách nhiệm đạo đức mà còn là chiến lược kinh doanh hiệu quả.

1.2. Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp du lịch

Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp du lịch được đo lường qua nhiều tiêu chí khác nhau. Các tiêu chí bao gồm doanh thu, lợi nhuận, mức độ hài lòng khách hàng và khả năng cạnh tranh. Doanh nghiệp du lịch hiệu quả phải tối ưu hóa sử dụng tài nguyên. Họ cần cung cấp dịch vụ chất lượng cao đồng thời giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Hiệu quả hoạt động còn phản ánh qua khả năng duy trì khách hàng và xây dựng thương hiệu bền vững. Doanh nghiệp du lịch cần thích ứng với thay đổi thị trường và xu hướng du lịch bền vững.

II. Phân tích tác động của tính bền vững đến doanh nghiệp du lịch

Tác động của tính bền vững doanh nghiệp đến hiệu quả hoạt động du lịch là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Nghiên cứu tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ chỉ ra rằng ba trụ cột CS có ảnh hưởng khác nhau đến hiệu quả kinh doanh. Trụ cột kinh tế có tác động trực tiếp và mạnh mẽ nhất đến hiệu quả tài chính. Doanh nghiệp quản lý tài chính tốt đạt được lợi nhuận ổn định và tăng trưởng bền vững. Trụ cột xã hội ảnh hưởng đến hình ảnh thương hiệu và mối quan hệ với cộng đồng địa phương. Doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội thu hút được nhiều khách hàng và nhân viên tốt hơn. Trụ cột môi trường giúp giảm chi phí hoạt động và tuân thủ quy định pháp luật. Doanh nghiệp áp dụng quản lý môi trường hiệu quả tiết kiệm được nguồn lực đáng kể. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp du lịch tại Việt Nam chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của CS. Họ thường tập trung vào lợi nhuận ngắn hạn mà bỏ qua phát triển bền vững dài hạn.

2.1. Tác động kinh tế của tính bền vững

Tính bền vững kinh tế giúp doanh nghiệp du lịch tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao hiệu quả tài chính. Quản lý tài chính bền vững bao gồm lập kế hoạch dài hạn, đa dạng hóa nguồn thu và kiểm soát chi phí hiệu quả. Doanh nghiệp áp dụng nguyên tắc CS kinh tế thường có tỷ suất lợi nhuận ổn định hơn. Họ ít bị ảnh hưởng bởi biến động thị trường và khủng hoảng kinh tế. Nghiên cứu cho thấy doanh nghiệp du lịch bền vững về kinh tế có khả năng cạnh tranh mạnh mẽ hơn. Họ đầu tư vào nâng cấp cơ sở vật chất và phát triển sản phẩm du lịch chất lượng.

2.2. Tác động xã hội và môi trường

Tác động xã hội của tính bền vững thể hiện qua mối quan hệ với cộng đồng địa phương. Doanh nghiệp du lịch có trách nhiệm xã hội tạo ra việc làm và cải thiện đời sống người dân. Họ tôn trọng văn hóa địa phương và bảo tồn di sản. Tác động môi trường liên quan đến việc giảm ô nhiễm và bảo vệ hệ sinh thái. Doanh nghiệp áp dụng quản lý môi trường giảm được chi phí xử lý chất thải và tránh phạt vi phạm quy định. Du khách ngày càng ưa chuộng doanh nghiệp du lịch thân thiện với môi trường và có trách nhiệm xã hội.

III. Giải pháp áp dụng tính bền vững trong doanh nghiệp du lịch

Để nâng cao hiệu quả hoạt động, doanh nghiệp du lịch cần áp dụng tính bền vững một cách toàn diện. Giải pháp đầu tiên là tích hợp ba trụ cột CS vào chiến lược kinh doanh tổng thể. Doanh nghiệp cần xây dựng kế hoạch phát triển dài hạn cân bằng giữa lợi nhuận và trách nhiệm xã hội. Quản lý du lịch bền vững dựa vào cộng đồng là giải pháp hiệu quả. Cộng đồng địa phương tham gia vào quá trình lập kế hoạch và ra quyết định phát triển du lịch. Phương pháp này tạo cơ hội cho người dân sử dụng tài nguyên của chính họ. Doanh nghiệp nên triển khai hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn quốc tế. Đào tạo nhân viên về phát triển bền vững là yếu tố quan trọng. Doanh nghiệp cần hợp tác với chính quyền địa phương và các tổ chức phi chính phủ. Xây dựng chương trình du lịch có trách nhiệm giúp thu hút khách hàng có ý thức bảo vệ môi trường. Doanh nghiệp cũng nên đầu tư vào công nghệ xanh và năng lượng tái tạo.

3.1. Quản lý du lịch cộng đồng bền vững

Quản lý du lịch cộng đồng là phương pháp phát triển du lịch dựa trên sự tham gia của người dân địa phương. Cộng đồng đóng vai trò tác nhân chính trong quá trình phát triển. Họ xác định nhu cầu, huy động nguồn lực và đưa ra quyết định phù hợp. Phương pháp này khuyến khích sáng tạo địa phương và tìm ra giải pháp phát triển du lịch thích hợp. Quản lý du lịch cộng đồng không chỉ nâng cao hiệu quả kinh doanh mà còn bảo tồn văn hóa và cải thiện đời sống người dân. Doanh nghiệp du lịch cần hỗ trợ và tạo điều kiện cho cộng đồng tham gia tích cực vào hoạt động du lịch.

3.2. Tích hợp ba trụ cột bền vững vào chiến lược

Tích hợp ba trụ cột bền vững vào chiến lược kinh doanh đòi hỏi doanh nghiệp thay đổi cách tiếp cận quản lý. Về kinh tế, doanh nghiệp cần lập kế hoạch tài chính dài hạn và đa dạng hóa nguồn thu. Về xã hội, doanh nghiệp xây dựng chương trình trách nhiệm xã hội và đào tạo nhân viên. Về môi trường, doanh nghiệp triển khai hệ thống quản lý môi trường và giảm tiêu thụ năng lượng. Chiến lược bền vững cần được thể hiện trong mọi hoạt động từ marketing đến vận hành hàng ngày. Doanh nghiệp nên thiết lập chỉ số đo lường hiệu quả bền vững để theo dõi tiến độ và điều chỉnh kịp thời.

IV. Kết luận và ứng dụng phát triển du lịch bền vững

Luận án tiến sĩ của Võ Thị Tâm (2021) đã chứng minh tính bền vững doanh nghiệp có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp du lịch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ. Ba trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường đều đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh. Doanh nghiệp áp dụng CS đạt được kết quả vượt trội về doanh thu, lợi nhuận và mức độ hài lòng khách hàng. Phát triển du lịch bền vững không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và văn hóa địa phương. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho doanh nghiệp và nhà hoạch định chính sách. Chính quyền địa phương cần xây dựng khung pháp lý hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng CS. Doanh nghiệp du lịch nên coi tính bền vững là chiến lược cốt lõi để phát triển lâu dài. Nghiên cứu mở ra hướng tiếp cận mới về mối quan hệ giữa CS và hiệu quả hoạt động trong ngành du lịch Việt Nam.

4.1. Hàm ý cho doanh nghiệp du lịch

Doanh nghiệp du lịch tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ cần nhận thức tầm quan trọng của tính bền vững. Họ nên tích hợp ba trụ cột CS vào chiến lược kinh doanh và hoạt động hàng ngày. Đầu tư vào quản lý môi trường giúp giảm chi phí và thu hút khách hàng có ý thức bảo vệ môi trường. Xây dựng mối quan hệ tốt với cộng đồng địa phương tạo lợi thế cạnh tranh bền vững. Doanh nghiệp cần đào tạo nhân viên về phát triển bền vững và áp dụng tiêu chuẩn quốc tế. Quản lý tài chính dài hạn giúp doanh nghiệp vượt qua khủng hoảng và duy trì tăng trưởng ổn định.

4.2. Hàm ý cho chính sách phát triển du lịch

Chính quyền địa phương vùng Duyên hải Nam Trung Bộ cần xây dựng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp du lich áp dụng tính bền vững. Khung pháp lý rõ ràng khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào bảo vệ môi trường và trách nhiệm xã hội. Chương trình đào tạo và tập huấn giúp nâng cao nhận thức về phát triển bền vững. Hợp tác công tư tạo điều kiện cho doanh nghiệp triển khai dự án du lịch cộng đồng. Chính sách ưu đãi thuế và hỗ trợ tài chính khuyến khích doanh nghiệp áp dụng công nghệ xanh. Quy hoạch du lich bền vững bảo vệ tài nguyên cho thế hệ tương lai.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Luận án tiến sĩ tác động của tính bền vững doanh nghiệp đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp du lịch

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu với những nội dung liên quan đến: (1) Lý do chọn đề tài; (2) Mục tiêu nghiên cứu của đề tài; (3) Câu hỏi nghiên cứu; (4) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu; (5) Phương pháp nghiên cứu; (6) Những điểm mới của luận án; (7) Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu; và (8) Kết cấu của đề tài.1 Lý do chọn đề tài 1.1 Bối cảnh lý thuyết Hiệu quả hoạt động (HQHĐ) là chủ đề nhận được sự quan tâm rộng rãi trong các nghiên cứu chiến lược (Vankatranan và Rananujam, 1986; Glunk và Wilderom, 1996; Hernaus và cộng sự, 2012; Rodrigues và Franco, 2019). Trong một thời gian dài, việc đo lường HQHĐ của doanh nghiệp gần như được đồng nhất với việc đo lường các chỉ tiêu tài chính (Glunk và Wilderom, 1996). Tuy nhiên, các khái niệm rộng hơn về HQHĐ đã được thảo luận (Kaplan và Norton, 2005; Hernaus và cộng sự, 2012). Theo đó, HQHĐ đã được tiếp cận theo quan điểm của lý thuyết các bên liên quan (Kanter và Brinkerhoff, 1981; Chakravarthy, 1986; Brown và Laverick, 1994).

Theo lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory), một doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại nếu doanh nghiệp có khả năng đáp ứng tốt nhu cầu của các bên liên quan (Freeman, 2015). Nói cách khác, một doanh nghiệp thành công hay hoạt động hiệu quả là một doanh nghiệp quản lý và đáp ứng tốt nhu cầu của các bên liên quan. Điều này ngụ ý rằng nếu doanh nghiệp không giải quyết tốt nhu cầu của các bên liên quan, nguy cơ xung đột có thể xảy ra và ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến HQHĐ. Như vậy, lý thuyết các bên liên quan đã ảnh hưởng đến các quyết định chiến lược của doanh nghiệp.

Với sự xuất hiện của khái niệm phát triển bền vững (PTBV) cho thấy sự thay đổi trong quan điểm chiến lược của các doanh nghiệp. Quan điểm này khiến các doanh nghiệp phải xem xét lại mô hình chiến lược kinh doanh của mình. Theo đó, khái niệm bền vững doanh nghiệp (Corporate Sustainability – CS) được sử dụng rộng rãi để đề cập đến cách tiếp cận của một doanh nghiệp nhằm tạo ra giá trị lâu dài cho các bên liên quan (Stakeholders) thông qua việc thực hiện các chiến lược kinh doanh tập trung vào các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường (Triple bottom line) (Dyllick và Hockerts, 2002; Hahn và cộng sự, 2017; Ashrafi và cộng sự, 2019). Đồng thời, theo lý thuyết phụ thuộc nguồn lực, CS được xem là một chiến lược kinh doanh và đầu tư nhằm tìm cách sử dụng các nguồn lực kinh doanh tốt nhất để đáp 2 ứng và cân bằng nhu cầu của các bên liên quan hiện tại và tương lai (WCED, 1987).

Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp sẽ quản lý và thực hiện các hoạt động phù hợp với nhu cầu của các bên liên quan, nhằm giảm nguy cơ, rủi ro từ sự phản ứng của các nhóm xã hội bên ngoài. Ngoài ra, việc áp dụng các chiến lược CS cho phép doanh nghiệp vượt trội hơn so với các doanh nghiệp khác không thực hiện các chiến lược bền vững (Adams và Zutshi, 2004). Theo Adams (2002), những thực hành bền vững mà các doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện cho việc thiết lập các hệ thống kiểm soát nội bộ, ra quyết định và tiết kiệm chi phí tốt hơn. Thông qua việc quản lý nguồn lực hiệu quả, các doanh nghiệp có thể đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững lâu dài.

Điều này củng cố thêm nhận thức rằng việc áp dụng các thực tiễn về CS đã trở thành một điểm cốt yếu trong chương trình quản trị định hướng hiệu quả của nhiều tổ chức (Sy, 2016). Hơn nữa, ý nghĩa mà CS mang lại cho doanh nghiệp là tăng cường khả năng tuân thủ luật và các qui định. Với những thảo luận về biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên năng lượng và tác động môi trường, không có gì ngạc nhiên khi các cơ quan chính phủ và nhà nước ban hành ngày càng nhiều quy định về bảo vệ môi trường. Tích hợp PTBV với ba thành tố then chốt (Triple bottom line) vào hoạt động kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp kịp thời tuân thủ những quy định không ngừng thay đổi hiện nay (Tomšič và cộng sự, 2015).

Do đó, nhiều doanh nghiệp đã nhận thức được tầm quan trọng của CS đối với doanh nghiệp (Dyllick và Hockerts, 2002) và các học giả đã bắt đầu thảo luận rộng rãi về chủ đề này (Hahn và cộng sự, 2017; Ashrafi và cộng sự, 2018; Rodrigues và Franco, 2019). Bên cạnh đó, các nghiên cứu thực nghiệm gần đầy đã cho thấy tác động tích cực của CS đến HQHĐ của doanh nghiệp (Eccles và cộng sự, 2014; Tomšič và cộng sự, 2015; Sy, 2016; El-Khalil và El-Kassar, 2018). Tuy nhiên, các nghiên cứu về tác động của CS đến HQHĐ lấy bối cảnh từ các nước phát triển và tập trung vào các tập đoàn lớn. Do đó, nghiên cứu về tác động của CS đến HQHĐ của doanh nghiệp trong bối cảnh mới không chỉ góp phần nhận diện tầm quan trọng của các khái niệm này một cách toàn diện hơn, mà còn bổ sung kiến thức về việc đo lường các khái niệm nghiên cứu, từ đó góp phần đem lại ý nghĩa về mặt lý thuyết và thực tiễn.

Đồng thời, Baumgartner (2014) đã kết luận rằng việc tìm kiếm tài liệu ngày càng tăng về chủ đề CS cũng như sự thiếu vắng các nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm trong lĩnh vực này. Theo đó, 3 Baumgartner (2014) đã khuyến khích cần thiết phải có những nghiên cứu chuyên sâu hơn về chủ đề này. Lý thuyết các bên liên quan chỉ ra rằng doanh nghiệp không chỉ chịu trách nhiệm trước các cổ đông của mình mà còn phải xem xét lợi ích của các bên liên quan khác (Freeman, 2015). Đồng thời, các hoạt động vì mục tiêu phát triển CS sẽ thúc đẩy sự tin tưởng, cam kết và hợp tác của các bên liên quan đối với doanh nghiệp (Gao và cộng sự, 2016).

Điều này ngụ ý rằng các hoạt động CS sẽ ảnh hưởng đến thái độ và hành vi như sự cam kết, sự gắn bó và sự tham gia của các bên liên quan chủ yếu của doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, nhân viên luôn được nhìn nhận là một trong những bên liên quan bên trong quan trọng đối với doanh nghiệp. Theo nghiên cứu của Choi và Yu (2014), hai tác giả đã cho thấy nhận thức của người lao động về thực hành các hoạt động bền vững có tác động tích cực đến sự gắn bó của nhân viên (SGBNV) đối với doanh nghiệp. Đồng thời, SGBNV là một trong những yếu tố nền tảng ảnh hưởng đến HQHĐ (Jung và Yoon, 2012; Ghazzawi, 2008; Tuna và cộng sự, 2016).

Những nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn kết của người lao động với tổ chức đã được thực hiện ở nhiều quốc gia, trong nhiều ngành và tập trung chủ yếu vào các yếu tố động viên tài chính và phi tài chính. Các nghiên cứu về những yếu tố tác động thuộc phương diện nhận thức về trách nhiệm công dân doanh nghiệp, về đạo đức đối với môi trường gần như ít được chú trọng. Điều này đã tạo cơ hội cho các nghiên cứu về sự tác động của CS đến nhận thức, thái độ và hành vi của nhân viên và vai trò trung gian của sự gắn nhân viên của nhân viên trong sự ảnh hưởng của CS đến HQHĐ. Ngoài ra, Lo và Sheu đã khẳng định trong nghiên cứu của mình rằng các doanh nghiệp có chiến lược PTBV có nhiều khả năng được các nhà đầu tư khen thưởng với mức định giá doanh nghiệp và cổ phiếu cao hơn trên thị trường tài chính (Lo và Sheu, 2007).

Nói cách khác, việc thực hiện các chiến lược bền vững giúp tăng cường sự quan tâm chú ý và dẫn đến sự cam kết của nhà đầu tư (SCKNĐT) đối với doanh nghiệp. Hơn nữa, các nghiên cứu về chủ đề này đã chỉ ra rằng sau khi đầu tư vào các công ty, các nhà đầu tư tổ chức luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc cải thiện quản trị công ty (Corporate governance) (Hartzell và Starks, 2003; Dong và Ozkan, 2008; Mizuno, 2014). Do đó, cam kết của nhà đầu tư sẽ ảnh hưởng tích cực đến những nguyên tắc quản trị doanh nghiệp tốt (OECD, 2004) (dẫn chiếu OECD Principles of Corporte Governance) và điều này góp phần quan trọng trong việc nâng cao HQHĐ. Điều này 4 cho thấy, có mối quan hệ cần được khám phá bằng nghiên cứu thực nghiệm về vai trò trung gian của sự cam kết của các nhà đầu tư trong tác động của CS đến HQHĐ.

Kiểm định mối quan hệ trung gian này nhằm khẳng định giả định nền tảng lý thuyết các bên liên quan – những thực thể chịu ảnh hưởng và ảnh hưởng bởi các quyết định và hoạt động của doanh nghiệp. Lược khảo tài liệu cho thấy, phần lớn các nghiên cứu về CS được thực hiện trong các ngành công nghiệp (Pedersen và cộng sự, 2018; Annunziata và cộng sự, 2018), nơi thường được xem là nguồn chủ yếu của ô nhiễm môi trường và an toàn lao động. Việc nghiên cứu CS trong các ngành dịch vụ là rất hạn chế. Kallio (2018) cho rằng ngành du lịch đang ở thời điểm then chốt, nơi mà tiềm năng và các mối đe dọa liên quan đến ngành du lịch đã thu hút được sự chú ý của toàn cầu.

Mặc dù lĩnh vực này mang lại nhiều cơ hội phát triển vì là một trong những ngành lớn nhất toàn cầu, nhưng ảnh hưởng tiêu cực mà ngành du lịch góp phần đối với môi trường như sự nóng lên của trái đất và biến đổi khí hậu cũng đã được thừa nhận. Như một phản ứng, ngành du lịch và giới học thuật đã và đang chuyển hướng sang các diễn thuyết về du lịch bền vững, hay gần đây là du lịch có trách nhiệm, nơi các bên liên quan hướng tới con đường PTBV toàn diện. Kallio (2018) nhấn mạnh giá trị cốt lõi của cuộc tranh luận về du lịch bền vững là khái niệm về trách nhiệm, đặc biệt là khái niệm về trách nhiệm của các bên liên quan đối với tính bền vững trong du lịch. Lược khảo các nghiên cứu về chủ đề bền vững trong du lịch, tác giả tìm thấy các nghiên cứu tập trung vào khoảng cách thái độ - hành vi của khách du lịch (Juvan and Dolnicar, 2014; Fernandez and Sanchez, 2016) hơn là thái độ - hành vi của sự tham gia của cộng đồng địa phương (STGCĐĐP) vào du lịch, trong khi công đồng địa phương được xem là bên liên quan đặc biệt quan trọng để có được sự bền vững một cách toàn diện (Kallio, 2018).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ