chương 1, trong chương 2 tác giả sẽ trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài và các khái niệm liên quan đến đề tài. Sau đó là tổng hợp các nghiên cứu liên quan trước đây. Cuối cùng là xây dựng thang đo và đề xuất mô hình nghiên cứu. 8 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Ngân hàng thƣơng mại và dịch vụ gửi tiết kiệm 2.1 Khái quát về ngân hàng thƣơng mại 2.1 Khái niệm ngân hàng thƣơng mại Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính trung gian có vai trò quan trọng nhất và có số lượng lớn nhất trong nền kinh tế quốc gia.
Sự xuất hiện của ngân hàng thương mại chiếm hầu hết trong các hoạt động của nền kinh tế xã hội và điều đó đã chứng minh rằng ở bất cứ quốc gia nào có hệ thống ngân hàng thương mại phát triển thì ở đó đồng nghĩa với việc nền kinh tế của họ luôn luôn tăng trưởng ở mức độ cao và ngược lại. Theo luật ngân hàng Pháp (1941) định nghĩa: Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký khác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tại nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng tài chính. Theo luật của các tổ chức tín dụng: NHTM được xem như là một tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động của ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục đích lợi nhuận dựa theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật (Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của chính phủ về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại). Nguyễn Văn Ngọc, Từ điển Kinh tế học, Đại học Kinh tế Quốc dân định nghĩa Ngân hàng thương mại như sau: theo nghĩa rộng, khái niệm này dùng để chỉ các định chế tài chính được phép nhận tiền gửi và cho vay dưới nhiều hình thức và điều kiện khác nhau.
Theo nghĩa hẹp, khái niệm này dùng để chỉ các ngân hàng tổng hợp thực hiện các nghiệp vụ như nhận tiền gửi viết séc, tiền gửi tiết kiệm cầm cố, cho vay (thường là ngắn hạn), môi giới chứng khoán v,v…. Từ những nhận định trên cho thấy NHTM cung cấp nhiều dịch vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán,. nhằm thõa mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.2 Chức năng của ngân hàng thƣơng mại Chức năng trung gian tín dụng Chức năng trung gian tín dụng là chức năng quan trọng nhất của NHTM. Khi thực hiện chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò nhận tiền gửi, vừa là người cho vay và hưởng lợi nhuận chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay.
Các bên tham gia như người gửi tiền và người đi vay đề đạt được lợi ích tài chính như mong muốn và ngân hàng cũng được lợi ích tương đương bằng việc cung cấp các giao dịch tài chính này. Nhận tiền gửi và cho vay luôn là hoạt động thường xuyên và quan trọng nhất của NHTM và mang đến lợi nhuận lớn nhất cho NHTM. Chức năng trung gian thanh toán Ngân hàng thương mại có chức năng trung gian thanh toán, làm thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các giao dịch thanh toán theo yêu cầu của khách hàng, thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ thông qua các chỉ thị thanh toán, trích tiền từ tài khoản tiền gửi của khách hàng hoặc thông qua séc, phiếu chi. Dưới hình thức phiếu chi, thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ,.
doanh thu bán hàng và các khoản thu khác được ghi có vào tài khoản tiền gửi của khách hàng theo đơn đặt hàng của khách hàng. Bằng cách này, các công ty và cá nhân sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí, thời gian, đảm bảo thanh toán an toàn. Do chức năng trung gian thanh toán này, hoạt động sản xuất hàng hoá và dịch vụ diễn ra trôi chảy trong nền kinh tế. Chức năng tạo tiền Tạo tiền tệ là một chức năng quan trọng, nó phản ánh rõ nét bản chất của ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại lấy lợi nhuận làm nhiệm vụ chính để tồn tại và phát triển, thực hiện trung thành chức năng tạo tiền tệ cho nền kinh tế bằng các nghiệp vụ kinh doanh đặc thù của mình. Chức năng tạo tiền tệ được thực hiện trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng này, hệ thống ngân hàng thương mại đã nâng cao tổng số phương thức thanh toán trong nền kinh tế và đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội.3 Các hoạt động của ngân hàng thƣơng mại Huy động vốn Huy động vốn bằng hình thức nhận tiền gửi từ khách hàng là tổ chức, cá nhân dưới nhiều hình thức tiền gửi như có kỳ hạn, không kỳ hạn, các loại tiền gửi khác. Huy động vốn bằng việc phát hành giấy tờ có giá như chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốn từ các nguồn vốn trong và ngoài nước.
Huy động vốn bằng cách vay từ ngân hàng Nhà nước hoặc vay từ các tổ chức Tín dụng khác. Hoạt động tín dụng Cho vay: có nhiều hình thức cho vay như cho vay ngắn hạn nhằm mục đích đáp ứng những nhu cầu của khách hàng vào việc cá nhân như mua nhà, mua xe hoặc tham gia vào hoạt động sản xuất. Cho vay trung hạn để khách hàng có thể thực hiện phát triển một dự án đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh,… Chiết khấu: ngân hàng thương mại được chiếc khấu các loại giấy tờ có ngắn hạn, thương phiếu đối với các tổ chức, cá nhân. Bảo lãnh: Ngân hàng thương mại dùng uy tín và khả năng tài chính của mình để bảo lãnh người nhận bảo lãnh bao gồm bão lãnh thanh toán, bảo lãnh vay, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bão lãnh đấu thầu.
Hạn mức đối với một khách hàng và tồng mức bảo lãnh không vượt quá vốn tự có của ngân hàng thương mại. Cho thuê tài chính: nếu ngân hàng thương mại muốn cho thuê tài chính thì bắt buộc phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng. Việc thành lập, tổ chức và hoạt động của công ty phải tuân thủ theo quy định của pháp luật. Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ Một trong những dịch vụ thuộc trong lĩnh vực bán lẻ của ngân hàng đó là mở tài khoản thanh toán cho khách hàng trong và ngoài nước.
Tài khoản mà các ngân hàng thương mại mở cho khách hàng có thể sử dụng để thanh toán giữa các ngân hàng với nhau thông qua ngân hàng Nhà nước. Các hoạt động chính về thanh toán và ngân quỹ của ngân hàng thương mại bao gồm: Thu và chi hộ; dịch vụ thanh toán khác theo quy định của nhà nước; cung cấp các phương tiện thanh toán; cung cấp 11 dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng; chuyển tiền quốc tế khi được Ngân hàng nhà nước cấp phép; dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng; tham gia vào hệ thống thanh toán quốc tế khi được Ngân hàng nhà nước cấp phép;. Các hoạt động khác Tham gia vào các hoạt động thị trường tiền tệ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước thông qua việc mua bán các công cụ tiền tệ, giấy tờ có giá. Sử dụng vốn điều lệ và dòng ngân quỹ dự trữ để góp vốn và mua cổ phần của các doanh nghiệp hoặc các tổ chức tín dụng khác trong nước theo quy định của pháp luật.
Cung ứng các dịch sản phẩm bán chéo như bảo hiểm và thành lập các công ty kinh doanh bảo hiểm trực thuộc hoặc liên doanh để bán bán bảo hiểm theo quy định của Pháp luật.4 Các yếu tố ảnh hƣởng đến hoạt động kinh doanh của NHTM Nhóm nhân tố khách quan Môi trường về kinh tế, chính trị, xã hội trong và ngoài nước NHTM là tổ chức trung gian tài chính có mục đích làm trung gian kết nối giữa hai khu vực đầu tư tiết kiệm từ nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư với khu vực đầu tư của nền kinh tế. Vì vậy mà mội trường kinh tế, chính trị, xã hội biến động sẽ tác động đến khả năng hoạt động của các ngân hàng. Hiện nay hội nhập quốc tế khiến cho các nền kinh tế của các quốc gia trên toàn cầu ngày càng phụ thuộc nhau, đặc biệt là khu vực Châu Á đang phát triển vượt bậc thu hút khá nhiều luồng vốn quốc tế. Cơ hội cho Việt Nam tiếp cập các nguồn vốn, công nghệ, kinh nghiệm,.
Tuy nhiên, bên cạnh đó ngành ngân hàng cũng phải đối mặt với nhiều thách thức từ quá trình hội nhập, như phải cạnh tranh với những tập đoàn tài chính đầy tiềm lực (về vốn, công nghệ, năng lực quản lý,. Trong khi thực tế hiện nay cho thấy, các NHTM Việt Nam còn yếu về mọi mặt, từ năng lực tài chính, kinh nghiệm quản trị NH, công nghệ đến nguồn nhân lực. Môi trường pháp lý Môi trường pháp lý bao gồm tính thống nhất và hoàn chỉnh của hệ thống pháp 12 luật, tính hoàn chỉnh của các văn bản dưới luật, mức độ tuân thủ pháp luật, trình độ dân trí. Thực tiễn cho thấy, các nền kinh tế trên thế giới đều có bề dày lịch sử, trong suốt quá trình phát triển hàng trăm năm, hệ thống luật có tầm ảnh hưởng quan trọng đến điều hành nền kinh tế thị trường.
Nếu hệ thống luật pháp xây dựng không phù hợp thì sẽ là một rào cản cho phát triển kinh tế. Đồng thời, nền kinh tế luôn vận động và phát triển không ngừng đòi hỏi Việt Nam phải sớm thông qua các bộ luật mới và sửa đổi các điều luật không còn phù hợp với tình hình kinh tế, có như vậy hệ thống luật pháp mới tạo lập được một môi trường pháp lý hoàn chỉnh, làm cơ sở để giải quyết các tranh chấp khiếu nại nảy sinh trong hoạt động kinh tế xã hội. Nhóm nhân tố chủ quan Các nhân tố chủ quan được thảo luận là các nhân tố bên trong của ngân hàng thương mại như khả năng tài chính, năng lực quản lý, ứng dụng tiến bộ công nghệ, trình độ và chất lượng, số lượng lao động,. -Khả năng tài chính của ngân hàng thương mại thường được biểu hiện trước hết bằng khả năng mở rộng vốn chủ sở hữu.
Tiềm năng về vốn chủ sở hữu sẽ ảnh hưởng đến quy mô hoạt động kinh doanh của ngân hàng như khả năng huy động và vay vốn, khả năng đầu tư tài chính, trình độ trang thiết bị kỹ thuật. Thứ hai, khả năng sinh lời cũng là yếu tố phản ánh khả năng tài chính của ngân hàng.